<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031</id><updated>2012-01-27T02:54:27.102-08:00</updated><title type='text'>Phật Pháp - Buddhadhamma</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>4836</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-156512740999113937</id><published>2012-01-27T02:53:00.000-08:00</published><updated>2012-01-27T02:54:27.116-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;i style="text-align: -webkit-auto; background-color: rgb(255, 255, 255); "&gt;&lt;span &gt;&lt;p align="center" style="text-align: left;"&gt;&lt;span  &gt;&lt;b&gt;ĐI&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="text-align: left; "&gt;&lt;span  &gt;&lt;b&gt;ỀU PH&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span  &gt;&lt;b&gt;ỤC TÂM Ý&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;i&gt;&lt;span &gt;"Tâm phàm phu xoay vần theo ngũ dục, xao động không thể nắm bắt. Chỉ những người nào điều phục được tâm mìmh mới được yên vui".&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span &gt; Câu thứ 35 ấy trong kinh Pháp cú có duyên khởi như sau:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: 'Times New Roman'; text-align: -webkit-auto; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;/span&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Thuở Phật còn tại thế, trong xứ Kiều tất la có một khu làng nằm dưới chân núi gọi là Mã đề thôn. Tại đấy có một bà lão sống một mình với một gia tài phong phú. Bà được mệnh danh là Mã Lão Mẫu. Vào một ngày an cư, sau khi đức Phật chỉ dạy cho chúng tỳ kheo pháp quán 32 uế vật trong thân, có 60 vị đi đến Mã Ðề thôn để thực hành thiền quán. Bà lão cho xây cất một tu viện cho 60 vị ấy cư trú và cúng dường đầy đủ về y phục, thực phẩm dược phẩm, mền chiếu trong suốt mùa an cư. Những tỳ kheo ấy muốn tinh tiến tu hành nên cùng đặt ra một quy luật như sau: không được hai vị tỳ kheo cùng đứng hay ngồi tại một chỗ đồng thời với nhau. Ðại chúng chỉ nhóm họp hai lần trong ngày là sáng sớm trước khi vào rừng tọa thiền và chiều tối sau khi ở rừng về, để bái yết vị thượng tọa chúng trưởng. Tuy nhiên, nếu có tỳ kheo nào bị bệnh, thì hãy đánh lên một hồi kiểng. Khi nghe tiếng kiểng tất cả sẽ nhóm lại để cùng lo cho bệnh nhân. Sau khi thỏa thuận quy luật trên chúng tỳ kheo đi vào rừng mỗi ngày.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Một hôm bà lão đem thực phẩm tới chùa cúng dường, không thấy ai cả, bà bèn hỏi những người ở chung quanh, làm cách nào để gặp chúng tỳ kheo. Có người biết quy luật nói trên, bày cho bà lão đánh kiểng. Tức thì từ trong rừng các vị tỳ kheo lần lượt trở về. Bà lão lấy làm quái lạ thấy mỗi người đi từ một hướng, không ai đi chung với ai, nên nghĩ thầm: "Có lẽ các Ðại Ðức có chuyện cãi vã nhau chăng?" Khi họ đến gần bà hỏi ngay câu ấy, và được trả lời: "Không đâu lão mẫu ". Bà lão hỏi: - Nếu quý vị không xích mích thì tại sao khi tới đây quý vị đi chung, mà bây giờ mỗi người đi mỗi ngã như vậy? - Lão mẫu, chúng tôi mỗi người ngồi một gốc cây để thực hành phép thiền quán của Thế tôn chỉ dạy. - Thưa Ðại Ðức, phép quán gì thế? - Lão mẫu, chúng tôi quán 32 uế vật trong thân. - Thưa, phép quán ấy chỉ dành cho các vị tỳ kheo mà thôi, hay cư sĩ như lão cũng tập được?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;- Ồ, lão mẫu, phép quán ấy ai muốn học cũng được cả, không ai cấm. - Vậy thì xin chư Ðại Ðức dạy cho lão với. - Ðược, lão mẫu hãy nghe cho kỹ. Rồi một vị tỳ kheo đằm trách dạy cho bà lão phép quán 32 uế vật trong thân, để đi đến nhận thức rõ ràng về hoại diệt, chết chóc luôn ẩn tàng trong thân mình. Bà lão thuộc lòng ngay phép quán và tinh cần tu tập đến nỗi bà đắc quả vị thứ ba (Bất lai) trong bốn Thánh quả, trước cả các vị tỳ kheo.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, bà quán thấy tất cả những vị tỳ kheo chưa ai đắc gì cả, và sau khi quán sát kỹ, bà thấy họ đều có khả năng chứng quả A La Hán. Khi nhận thấy điều này, bà lão quyết định hỗ trịï cho chúng tỳ kheo đầy đủ về mọi mặt, để họ có thể mau chứng quả. Vị nào thích hợp với món ăn nào, thức uống nào, bà cung cấp đúng như nhu cầu của họ. Bà thận trọng không cúng dường những thực phẩm có vị chua cho những người nào yếu bao tử. Vị nào ưa ngủ gục trong lúc tọa thiền, bà lão cúng cà phê. Vị nào yếu phổi, bà cúng thêm mền và áo lạnh. Trong tâm vị nào tưởng đến món ăn gì, bà lão biết ngay và đáp ứng.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Nhờ sự chăm sóc chu đáo ấy, sau khi giải hạ, 60 vị tỳ kheo trở về bên Phật với sắc diện hồng hào tươi nhuấn, và tiến bộ khá hơn trên đường tu. Phật âu yếm nhìn đàn con trở về và bảo: - Này các tỳ kheo, chắc hẳn các con được an vui, sức khỏe, thực phẩm đầy đủ trong mùa an cư? - Dạ thưa vâng, Bạch Thế Tôn. Chúng con được an vui, sức khỏe, và khỏi lo gì đến chuyện ăn uống. Bởi vì có một bà lão ở Mã Ðề thôn biết được ý nghĩ chúng con, đến nỗi chúng con vừa ước món gì, là có ngay món ấy. Các vị tỳ kheo thi nhau kể chuyện về bà lão dị kỳ cho Phật và chúng Tăng ở Xá vệ nghe.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Một vị tỳ kheo nghe xong, quyết đi đến Mã Ðề thôn để thiền định, và xin Phật: - Bạch Thế tôn, cho con tới đó. Phật bằng lòng, sau khi ra đề tài cho vị ấy thiền quán. Vị tỳ kheo lên đường đi dến Mã Ðề thôn. Khi đến ngôi chùa của bà lão bỏ vắng, vị ấy nghĩ: "Mình nghe bà lão dường như biết được tâm kẻ khác. Vậy nay mình vừa mới tới, quá mệt vì đường xa không thể quét dọn chùa. Mong sao bà lão cho người tới quét dùm". Bà lão đang ở nhà riêng, biết được ý ấy, bèn cho người tới quét chùa. Vị tỳ kheo lại ao ước trong lòng "ước chi mình có được một ly cô ca mát lạnh mà giải khát". Bà lão cho người đem ly cô ca lạnh cho vị tỳ kheo. Hôm sau, vừa thức dậy, vị t? kheo ước: "Mong sao bà lão dọn cho mình một bữa điểm tâm nhiều bị và thức ăn ngon lành". Bà lão cho người đem bữa điểm tâm đúng như vị ấy muốn. Vị tỳ kheo suy nghĩ: "Bà lão đã cho ta mọi thứ ta ao ước. Bấy giờ ta muốn gặp mặt bà. Mong sao bà hãy đích thân đến, mang cho ta thật nhiều thức ăn loại cứng loại mềm. Bà lão liền đi đến chùa cùng với thức ăn cúng dường đúng sở thích của vị tỳ kheo. Vị tỳ kheo nói: - Lão mẫu, có phải bà là Mã lão mẫu không? - Thưa vâng. - Bà có tha tâm thông à? - Tại sao Ðại Ðức hỏi vậy? - Vì bà đã cho tôi mọi thứ tôi nghĩ đến. - Nhiều vị tỳ kheo cũng có tha tâm thông. -Tôi không nói các tỳ kheo, tôi muốn hỏi bà. Bà lão tránh né trả lời bằng cách nói: - Thưa Ðại Ðức đâu cần phải có tha tâm thông mới có thể cúng dường các thứ ấy?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Khi ấy vị tỳ kheo bắt đầu hoằng sợ, nghĩ: " Khốn thay, kẻ chưa chứng đắc như ta thì có khi nghĩ tốt nhưng cũng lắm khi nghĩ bấy. Nếu lỡ có một ý nghĩ bậy bạkhởi lên, bà lão sẽ tóm cổ ta như tóm bắt một kẻ trộm, và liếng hành lý ta ra khỏi chùa. Ta sẽ bị khốn đốn với bà lão. Chi bằng ta hãy thoát khỏi chốn này. Nghị vậy xong, vị tỳ kheo nói với bà lão: - Này lão bà, tôi muốn rời khỏi nơi đây. - Ðại Ðức đi đâu? - Trở về Thế tôn. - Ðại Ðức ở lại ít lâu đã. - Không tôi không thể ở lại. Tôi phải đi ngay.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Thế là vị đại đức của chúng ta thu xếp hành lý thoát ra khỏi ngôi chùa bà lão, vừa đi vừa thở phào nhẹ nhõm cả người, như vừa thoát khỏi tử nạn. Khi trở về vườn Cấp cô độc, đến đãnh lễ Phật, Phật hỏi: - Sao, sao con không ở Mã Ðề thôn nữa à? - Bạch Thế tôn, bà lão biết hết mọi ý nghĩ trong tâm con. Và con nghĩ rằng, kẻ chưa chứng đạo như con thì có khi nghĩ tốt, nhưng cũng nhiều khi nghĩ bấy. Lỡ mà con có ý nghĩ xấu, bà lão ấy sẽ túm lấy đầu con, và sẽ làm con khốn đốn. - Con đi, chính nơi ấy con cần nên cư trú. - Bạch Thế tôn, con không thể nào ở chỗ ấy được nữa. - Này tỳ kheo, con có thể giữ một điều này thôi không? - Ðiều gì, Bạch Thế tôn, con chưa hiểu.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;- Chỉ giữ cái tâm của con, không làm việc gì khác.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT" style="font-family: 'Times New Roman'; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium; "&gt;&lt;span &gt;Sau khi nghe lời Phật dạy, vị tỳ kheo trở lại làng bà lão. Với thiên nhãn bà lão biết được vị tỳ kheo sắp đắc quả nên càng chu đáo cúng dường để hỗ trịï cho ông mau chóng đạt mục đích. Do đó, chỉ trong vài ngày vị ấy đắc quả A La Hán. Sau khi đắc quả, vị ấy suy nghĩ: "Bà ấy quả thực đã giúp đỡ ta rất nhiều. Nhờ bà lão ấy mà ta thoát ly được vòng sống chết. Không biết chỉ trong kiếp này bà ấy giúp ta, hay nhiều kiếp trước cũng vậy?" Vị La hán nhập định quán sát các tiền kiếp thì biết rằng trong 99 kiếp trước, bà lão đã làm vợ mình và đã ngoại tình với những người đàn ông khác, và làm cho mình phải thật điên bát đảo. Bà lão lại còn âm mưu giết mạng sống của mình. Khi biết được điều ấy, vị La hán nghĩ: "Ồ tín nữ này đã phạm biết bao tội ác!" Bà lão ngồi trong ngôi nhà riêng, biết được tâm niệm của vị A La Hán, và nghĩ: "Vị ấy đang nghĩ về tội lỗi 99 kiếp trước của ta. Nhưng trong vòng luân hồi đã qua, có lần nào ta giúp vị ấy không? Bà lão nhập định thấy ở kiếp thứ 100 về trước, bà đã cứu mạng sống của vị A La Hán khi vị ấy là chồng bà. Do đó, bà dùng thần giao cách cảm bảo vị La hán: - Hãy quán sát tiếp, đi sâu hơn nữa vào quá khứ. Bằng thiên nhị thông, vị La hán nghe được hiệu lệnh trên, và tiếp tục quán sát đến kiếp thứ 100 về trước của mình, thì thấy quả nhiên bà lão cứu mạng mình. Vị La hán nghĩ: "Tín nữ này quả đã giúp ta rất nhiều". Sau khi nghĩ như vậy, ngay tại chỗ vị ấy nhập Niết bàn vô dư y.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-156512740999113937?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/156512740999113937'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/156512740999113937'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/i-eu-ph-uc-tam-y-tam-pham-phu-xoay-van.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-1692524933248422393</id><published>2012-01-22T23:32:00.004-08:00</published><updated>2012-01-23T07:40:28.127-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Nhâm Thìn 2012&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;NĂM LẠC THÀNH CHÙA PHÁP LUÂN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-NJYsgBS_7hQ/Tx0OqNSJgvI/AAAAAAAABRk/WBkln8SS_W4/s1600/IMG_1837.JPG"&gt;&lt;img style="float: left; margin: 0pt 10px 10px 0pt; cursor: pointer; width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-NJYsgBS_7hQ/Tx0OqNSJgvI/AAAAAAAABRk/WBkln8SS_W4/s320/IMG_1837.JPG" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5700728821603992306" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Năm 2011 Chùa Pháp Luân hoàn tất công trình trùng tu. Năm 2012 tổ chức Lạc Thành. Không phải tổ chức trong một thời điểm mà trọn năm 2012 với 12 pháp hội.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Giêng: TƯ LƯƠNG KHỞI HÀNH&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;i style=""&gt;Chủ Nhật 22 -1 đến Thứ Tư 25-1&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Nguyên Đán là khởi đầu của tân niên. Nội dụng của pháp hội là giới thiệu những lời Phật dạy thiết yếu cho hành trình của đời sống. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Những bài pháp đầu năm &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Hai: HUYỀN NGHĨA HOA SEN&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật 26-2-2012 12 giờ trưa&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Nội dung nói về những ý nghĩa hoa sen tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật giáo được thể hiện qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân phối hợp tổ chức.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Ba: NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Hai tuần lễ từ 2-3 đến 16-3&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Hành hương thăm viếng hai quốc gia Phật giáo Miến Điện và Tích Lan. Một quốc gia thịnh hành thiền tứ niệm xứ và A tỳ đàm; một quốc gia đóng vai trò quan yếu trong lịch sử truyền thừa Phật Pháp. Bốn cố đô Phật giáo ghi đậm nét thời hoàng kim của lịch sử Yangon, Pagan, Kandy, Anuradhapura là trọng điểm của chuyến hành hương.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;Pháp Hội Tháng Tư: THIỀN QUÁN&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;23-4 đến 29 -4&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Khóa tu thiền quán 7 ngày. Bằng kinh nghiệm của nhiều năm hướng dẫn thiền tứ niệm xứ, Ngài Thiền Sư sẽ giới thiệu về phương pháp huân tu chánh niệm cho những hành giả muốn dành trọn tuần lễ sống tại chùa tu tập. Những thiền sinh sẽ khám pháp tại sao thiền quán chẳng những là tinh hoa của Phật Pháp mà còn có thể ứng dụng đa năng trong đời sống hằng ngày.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Năm: BƯỚC CHÂN BẬC ĐẠI TỪ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;i style=""&gt;Chủ Nhật 20-5&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chiêm nghiệm những bước chân kỳ vĩ của Đức Phật nhân mùa Khánh Đản Phật lịch 2556 qua 9 họa phẩm mô tả đấng Thiên Nhơn Chi Đạo Sư. Nghi thức cúng dường sẽ thể hiện bằng sự kết hợp năm truyền thống nghi lễ của Phật Giáo Á Châu.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Sáu: HẠT GIỐNG HÒA BÌNH&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Thứ Bảy và Chủ Nhật 23, 24-6&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;“Người Phật tử gieo trồng và trưởng dưỡng tinh thần hòa bình giữa thế giới hận thù bằng cách nào” Đó là nội dung được chia sẽ bởi nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng. Một quốc gia bị ngoại xâm với hơn 120 ngàn dân tị nạn lưu vong khắp nơi trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng chẳng những bảo lưu được truyền thống văn hóa đặc thù cho chính mình mà còn tích cực hoằng hóa Phật pháp và xã hội Tây Phương với những thành công đáng kể. Ngoài những bài nói chuyện còn có nhạc lễ và thiết lập mạn đà la.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Bảy: TIN HỌC VÀ PHẬT HỌC&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Thứ Bảy và Chủ Nhật 21,22 -7&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Khoa học kỹ thuật ngày nay cho con người những phương tiện mà cách đây mấy mươi năm không ai có thể tượng tượng. Áp dụng những kỹ thuật đó vào việc học Phật là điều mang lại lợi ích lớn lao. Tổng Vụ Truyền Thông GHPGVNTN-HK phối hợp với chùa Pháp Luân giới thiệu những tận dụng kỹ thuật tin học cho việc đọc kinh sách, thiền tập và nghiên cứu Phật Pháp. Sáu chuyên gia sẽ trình bày những ứng dụng qua ba hệ thống IOS, Android, và Windows.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Tám: HIẾU VÀ ĐẠO&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật 26-8&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Đại lễ Vu Lan với ba bài thuyết trình về chữ Hiếu theo văn hóa, theo Phật Pháp và theo thực tế cuộc sống hôm nay. Nghi thức cầu thọ cho phụ mẫu hiện tiền và kỳ siêu cho cha mẹ quá vãng được hướng dẫn từng phần một. Chương trình thực hiện bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh cho những người nói tiếng Việt cũng như không hiểu tiếng Việt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Chín: TUỔI TRẺ VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật 30-9&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Tuổi trẻ hôm nay lớn lên với những hấp lực to lớn cuốn phăng khỏi những giá trị truyền thống gia đình. Hơn thế nữa những hướng dẫn về đời sống nội tâm ngày càng ít đi. Thay vào đó là những đam mê kỹ thuật khiến tâm hồn suy nghĩ một cách máy móc. Ba nhà giáo dục: một chuyên về sư phạm, một chuyên về thiền định, một chuyên về gia đình sẽ chủ trì chương trình hội thảo về đời sống tâm tinh của người trẻ hôm nay.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Mười: ĐẠO PHẬT VÀ DÂN TỘC&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật 14-10&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm của chiến tranh và ngoại xâm. Đạo Phật Việt Nam gắn bó mật thiết với dân tộc trong mọi thời đại. Lịch sử đương đại của đất nước và đạo Phật để lại nhiều bài học quan trọng. Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức buổi hội thảo về Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Đệ Tứ Tăng Thống và những viễn kiến về đất nước. Sẽ có lễ cầu nguyện cho những người đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Mười Một: TRUYỀN THỐNG TĂNG GIÀ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;25-11&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Giáo đoàn Tăng lữ được Đức Phật thiết lập 26 thế kỷ qua là tổ chức tồn tại miên tục lâu đời nhất của nhân&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;loại. Cơ chế tổ chức không giống bất cứ hình thái khác trong xã hội loài người. 2 bài thuyết trình giới thiệu chủ đề trong đại lễ kiết giới Sima chánh điện và lễ Tăng y Kathina là hình ảnh cụ thể của truyền thống tổ chức đặt trên những giá trị thiêng liêng.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style=""&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;Pháp Hội Tháng Mười Hai: HƯỚNG NGUYỆN&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Chủ Nhật 16-12&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 115%; color: rgb(192, 0, 0);font-size:14pt;" &gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="line-height: 115%;font-size:14pt;" &gt;Phật Giáo sẽ đi về đâu trong 50 tới dự trên những bài học lịch sử. Đó là nội dụng được thảo luận bởi 5 học giả Phật Giáo. Năm chủ đề: Sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo và chế độ thuộc địa, Phật giáo và chế độ cộng sản, Phật giáo và sự phát triển khoa học kỷ thuật, Sự phổ biến &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;của thiền học Phật giáo trong thế kỷ 20.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-1692524933248422393?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1692524933248422393'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1692524933248422393'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/normal-0-false-false-false-en-us-x-none.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-NJYsgBS_7hQ/Tx0OqNSJgvI/AAAAAAAABRk/WBkln8SS_W4/s72-c/IMG_1837.JPG' height='72' width='72'/></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-2126384053873941421</id><published>2012-01-21T01:21:00.000-08:00</published><updated>2012-01-23T02:25:17.794-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: normal;"&gt;Thông Báo Tết Nguyên Đán và Lễ Thượng Nguyên Chùa Pháp Luân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-7c3upI0mIKQ/TxfhKGRxmsI/AAAAAAAABRM/XHDfTRB0g1U/s1600/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B1.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 292px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-7c3upI0mIKQ/TxfhKGRxmsI/AAAAAAAABRM/XHDfTRB0g1U/s400/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B1.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5699271417060760258" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-lkt_-_hSA7w/TxfhJkcu5DI/AAAAAAAABRA/pIC4HKgqP60/s1600/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B2.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 300px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-lkt_-_hSA7w/TxfhJkcu5DI/AAAAAAAABRA/pIC4HKgqP60/s400/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B2.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5699271407979914290" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-D65D1DRn1mU/TxfhI3Pz1pI/AAAAAAAABQ0/D8dOFEj7ND0/s1600/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B3.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 300px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-D65D1DRn1mU/TxfhI3Pz1pI/AAAAAAAABQ0/D8dOFEj7ND0/s400/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B3.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5699271395846117010" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-8c5NMVIti5o/TxfhIiKoIPI/AAAAAAAABQo/InkzPfy0Dw8/s1600/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B4.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 300px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-8c5NMVIti5o/TxfhIiKoIPI/AAAAAAAABQo/InkzPfy0Dw8/s400/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B4.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5699271390187233522" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân dịp xuân về kính chúc quí đồng hương, đồng bào Phật tử tân niên cát tường, hanh thông an lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn&lt;/span&gt; &lt;/span&gt;khởi đầu với đêm giao thừa tối&lt;span style="font-weight: bold;"&gt; Chủ Nhật 22 -1-2012 lúc 11:30 tối&lt;/span&gt; gồm khóa lễ cúng Tam Bảo, ba hồi chuông giao thừa, nghi thức cầu quốc thái dân an, đạo từ tân xuân, múa lân, thỉnh lộc. Ngày mùng một tết, mùng hai, mùng ba nhằm các ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư 23-25 tháng 1 có chương trình tụng kinh Tam bảo buổi sáng 11:30; tuyên sớ cầu nguyện tân niên vào buổi tối 7:00 sau đó là pháp thoại. Những bài pháp đầu năm sẽ gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Đại lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng&lt;/span&gt; &lt;/span&gt;năm nay được tổ chức vào &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Thứ Bảy 4-2-2012&lt;/span&gt; với chương trình trọn đêm tu học. Vì là Rằm Magha đánh dấu hai sự kiện trọng đại: ngày Đức Thế Tôn tuyên thuyết tôn chỉ chánh pháp (ovadāpatimokkha) và cũng là ngày Đức Phật tuyên bố sự thiết lập ngôi nhà chánh pháp viên mãn nên đại lễ Rằm Tháng Giêng còn được gọi là Ngày Pháp Bảo (Dhamma Day). Đêm tu học bắt đầu lúc 7:30 tối với nghi thức cúng dường, tụng kinh lễ Tam Bảo, thắp nến nguyện cầu, nghi thức thọ trì hạnh đầu đà, hướng dẫn thiền tập tứ niệm xứ, sinh hoạt tu học chủ đề Truyền Thống Chánh Pháp. 5 giờ sáng hồi hướng hoàn mãn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Pháp Hội Huyền Nghĩa Hoa Sen Trong Đạo Phật&lt;/span&gt; ngày &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Chủ Nhật 26-2-2012 &lt;/span&gt;là hoạt động kết hợp giữa Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân.&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-FdP0hQQNWwY/TxfjSfUGLpI/AAAAAAAABRY/J-O6Ie2d_w4/s1600/GiaHuy.jpg"&gt;&lt;img style="float: left; margin: 0pt 10px 10px 0pt; cursor: pointer; width: 116px; height: 116px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-FdP0hQQNWwY/TxfjSfUGLpI/AAAAAAAABRY/J-O6Ie2d_w4/s320/GiaHuy.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5699273760243592850" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Nội dung nói về những ý nghĩa hoa sen&lt;/span&gt; tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật giáo được thể hiện qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ca sĩ Gia Huy&lt;/span&gt; sẽ cống hiến phần âm nhạc giữa những pháp thoại. Cơm trưa do ban trai soạn chùa khoản đãi. Giá ủng hộ 30 mỹ kim.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc chùa Pháp Luân (713)433-4364&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyện cầu Phật lực cao vời gia hộ tất cả chúng ta&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trụ Trì&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỳ kheo Giác Đẳng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Chi phiếu xin đề: CHUA PHAP LUAN, QUY XAY CAT)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc:&lt;br /&gt;Điện thoại: +1(713)433-4364&lt;br /&gt;Email: phapluan@yahoo.com&lt;br /&gt;Website: phapluan.net&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể cúng dường trực tiếp qua chương mục ngân hàng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BANK OF AMERICA&lt;br /&gt;SWIFT CODE NO. BOFAUS3N&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;PHAP LUAN BUDDHIST CUTURE CENTER&lt;br /&gt;ACC. 005742968162&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-2126384053873941421?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2126384053873941421'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2126384053873941421'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/thong-bao-tet-nguyen-va-le-thuong.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-7c3upI0mIKQ/TxfhKGRxmsI/AAAAAAAABRM/XHDfTRB0g1U/s72-c/thong%2Bbao%2Btet%2Bchua%2Bphap%2Bluan%2B1.jpg' height='72' width='72'/></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-4654282520863449907</id><published>2012-01-18T01:04:00.000-08:00</published><updated>2012-01-19T01:41:27.877-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Lá Thư Xuân&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Xuân lại về. Năm nay Tết Nguyên Đán đến sớm. Chỉ ba tuần lễ sau tết Dương Lịch. Có nhiều dấu hiệu cho thấy năm 2012 đến với viễn ảnh hứa hẹn sau thời gian kinh tế toàn cầu suy thoái. Xuân dưới mái chùa gợi nhắc ý nghĩa thạnh suy là thường sự. Cũng như thời tiết, tất cả thăng trầm vốn là luật tuần hoàn.....&lt;a href="http://phapluan.net/index.html"&gt;Xem Tiếp.&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-oWMrhMjDbdE/TxE8rqUnItI/AAAAAAAABO8/9qVOVwg5VRY/s1600/photo.JPG"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 412px; height: 547px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-oWMrhMjDbdE/TxE8rqUnItI/AAAAAAAABO8/9qVOVwg5VRY/s400/photo.JPG" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5697401724393169618" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;/span&gt;Tháp chuông chùa Pháp Luân&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-4654282520863449907?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4654282520863449907'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4654282520863449907'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/thap-chuong-chua-phap-luan.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-oWMrhMjDbdE/TxE8rqUnItI/AAAAAAAABO8/9qVOVwg5VRY/s72-c/photo.JPG' height='72' width='72'/></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-7046313284605204579</id><published>2012-01-16T00:22:00.003-08:00</published><updated>2012-01-20T05:26:14.188-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;Điềm Báo Cát Tường&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Băn khoăn và mơ ước về tương lai khiến chúng sanh trong đời ra sức tìm hiểu những tín hiệu báo trước sự may mắn tốt lành. Khi Đức Thế Tôn ở ngự tại chùa Kỳ Viên, Xá Vệ, một vị thiên hiện đến trong đêm khuya bạch hỏi: Cái gì là điềm lành tối thượng. Câu trả lời của Đức Phật khiến nhiều người ngạc nhiên dù trải qua bao thế hệ. Ngay đến hôm nay cũng vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không gần gũi kẻ ác&lt;br /&gt;Thân cận bậc trí hiền&lt;br /&gt;Cúng dường bậc tôn đức&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở trú xứ thích hợp&lt;br /&gt;Công đức trước đã làm&lt;br /&gt;Chân chánh hướng tự tâm&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ða văn nghề nghiệp giỏi&lt;br /&gt;Khéo huấn luyện học tập&lt;br /&gt;Nói những lời chơn chất&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiếu thuận bậc sanh thành&lt;br /&gt;Chăm sóc vợ và con&lt;br /&gt;Sống bằng nghề lương thiện&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bố thí hành đúng Pháp&lt;br /&gt;Giúp ích hàng quyến thuộc&lt;br /&gt;Hành vi không lổi lầm&lt;br /&gt;Là phúc lành cao thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xả ly tâm niệm ác&lt;br /&gt;Tự chế không say sưa&lt;br /&gt;Tinh cần trong thiện pháp&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biết cung kính khiêm nhường&lt;br /&gt;Tri túc và tri ân&lt;br /&gt;Ðúng thời nghe chánh pháp&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;Nhẫn nhục tánh thuần hoá&lt;br /&gt;Thường yết kiến sa môn&lt;br /&gt;Tùy thời đàm luận pháp&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;Thiền định sống phạm hạnh&lt;br /&gt;Thấy được lý thánh đế&lt;br /&gt;Chứng ngộ quả niết bàn&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;Khi xúc chạm việc đời&lt;br /&gt;Tâm không động không sầu&lt;br /&gt;Tự tại và vô nhiễm&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;Những sở hành như vậy&lt;br /&gt;Không chỗ nào thối thất&lt;br /&gt;Khắp nơi được an toàn&lt;br /&gt;Là điềm lành tối thượng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 1. Mangala có nghĩa là điềm lành, dấu hiệu cát tường. Thí dụ người ta nói chó đến nhà là hên. Nhiều người dịch là hạnh phúc, phúc đức, phúc lành là cách dịch thoát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 2. Mangalamuttaman - điềm lành tối thượng - chỉ cho cái đáng hoan hỷ, mong đợi nhất&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 3. Điềm lành tối thượng không phải chỉ có một mà được tính có đến 38 pháp trong bài kinh nầy&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 4. Tất cả điềm lành ở đây đều là những pháp liên hệ thiện tâm, thiện hạnh và thiện xão.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 5. Điềm lành theo lời Phật dạy không nằm ở "hên xui" mà chính ở sự thể hiện thiện pháp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 6. 38 pháp nằm trong 10 bài kệ. Không có một bản sớ giải nào giải thích tại sao những pháp đó được phân ra nằm chung trong một bài kệ. Tuy vậy có thể suy diễn là mỗi bài kệ có một chủ đề riêng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 7. Nói về nhân cách tốt đẹp:&lt;br /&gt;    Không gần gũi kẻ ác&lt;br /&gt;    Thân cận bậc trí hiền&lt;br /&gt;    Cúng dường bậc tôn đức&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 8. Nói về điều kiện thuận lợi :&lt;br /&gt;    Ở trú xứ thích hợp&lt;br /&gt;    Công đức trước đã làm&lt;br /&gt;    Chân chánh hướng tự tâm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 9. Nói về sở đắc cá nhân:&lt;br /&gt;    Ða văn nghề nghiệp giỏi&lt;br /&gt;    Có đào luyện học tập&lt;br /&gt;    Khéo sử dụng ngôn từ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10. Nói về phương diện gia đình&lt;br /&gt;    Hiếu thuận bậc sanh thành&lt;br /&gt;    Chăm sóc vợ và con&lt;br /&gt;    Sống bằng nghề lương thiện&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11. Nói về phương diện xã hội&lt;br /&gt;    Bố thí hành đúng Pháp&lt;br /&gt;    Giúp ích hàng quyến thuộc&lt;br /&gt;    Hành vi không lổi lầm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12. Nói về phương diện tu thân&lt;br /&gt;    Xả ly tâm niệm ác&lt;br /&gt;    Tự chế không say sưa&lt;br /&gt;    Tinh cần trong thiện pháp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13. Nói về sự học hỏi&lt;br /&gt;    Biết cung kính khiêm nhường&lt;br /&gt;    Tri túc và tri ân&lt;br /&gt;    Ðúng thời nghe chánh pháp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14. Nói về sự tu tập&lt;br /&gt;    Nhẫn nhục không bướng bĩnh&lt;br /&gt;    Thường yết kiến sa môn&lt;br /&gt;    Tùy thời đàm luận pháp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15. Nói về sự tu chứng&lt;br /&gt;    Thiền định sống phạm hạnh&lt;br /&gt;    Thấy được lý thánh đế&lt;br /&gt;    Chứng ngộ quả niết bàn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;16. Nói về đời sống an lạc Khi xúc chạm việc đời&lt;br /&gt;    Tâm không động không sầu&lt;br /&gt;    Tự tại và vô nhiễm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Thảo luận kệ ngôn 2&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Chữ trú xứ thích hợp ở đây nên được hiểu là chỗ ở, môi trường, quốc độ ? (thí dụ ngôi chùa mình ở, láng giềng, quốc độ..)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Pháp thứ hai nên hiểu là "đời trước đã tạo thiện nghiệp" hay "bây giờ tạo phước để dành"?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Tại sao chúng sanh không lựa chọn con đường tốt đẹp mà đi?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Phải chăng chỉ có người "có nhiều điều kiện" mới có khả năng lựa chọn cái gì tốt cho mình?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố cho bài giảng kệ ngôn 2&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Câu nào dưới đây không có ý nghĩa liên hệ tới kệ ngôn hôm nay:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a. Sanh trong thời có chiến tranh, hận thù là nguyên nhân bất lợi cho sự tăng trưởng trí tuệ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b. Nếu người ta ý thức được sự tranh chấp dẫn đến suy tàn thì mọi sự hơn thua sẽ lắng dịu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c. Tạo phước tức là cách cất giữ tài sản tốt nhất&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;d. Ở đời mạnh được yếu thua&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-7046313284605204579?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7046313284605204579'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7046313284605204579'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/iem-bao-cat-tuong-ban-khoan-va-mo-uoc.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-6032954081699972350</id><published>2012-01-15T00:50:00.001-08:00</published><updated>2012-01-15T12:04:44.444-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;&lt;br /&gt;Chướng Duyên Thuận Duyên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Sirivaddka Thera&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), trong nhà một Bà-la-môn giàu có. Khi vua Bimbisàra gặp bậc Ðạo Sư, do nghiệp duyên đời trước, ngài xuất gia, đi đến một ngọn núi gần Vebhàra và Pandava, và trú tại chỗ ấy, chuyên hành tu tập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, một cơn giông tố lớn nổi lên và sét đánh vào hang, nhưng nhờ gió lớn của các đám mây, làm nhẹ bớt sức nóng đang đè nặng trên ngài, nhờ vậy với một nhiệt độ thích hợp, ngài có thể thiền định, thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Với bài kệ nói lên chánh trí của mình, ngài thốt lên những lời như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Giữa đồi Vebhara,&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;        Giữa đồi Pandava,&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;        Sét đánh vào cửa hang,&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;        Ðứa con bậc Vô tỷ,&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;        Như vậy, vẫn ngồi thiền.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Sự tu tập thường khi đối diện với cả thuân duyên lẫn nghịch duyên&lt;br /&gt;2. Những tiện nghi thích hợp đôi khi rất cần thiết để bừng khai tuệ giác&lt;br /&gt;3. Biết kham nhẫn với nghịch cảnh, biết tận dụng thuận duyên là những "cái khéo" của hành giả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Thảo luận&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Những tu viện có nên xây cất thật tiện nghi để trợ duyên cho các tu sĩ không?&lt;br /&gt;2. Mức độ "vừa phải" trong sự tu tập có giống nhau đối với tất cả người tu tập không?&lt;br /&gt;3. Sự "giật mình" có phải là một thứ phiền não không?&lt;br /&gt;4. cơ duyên giác ngộ có phải là một sự may mắn với người tu tập không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Câu đố&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Người tu tập khi gặp nghịch cảnh thì nên làm gi?&lt;br /&gt;a. Bỏ đi nơi khác&lt;br /&gt;b. Kham nhẫn chấp nhận&lt;br /&gt;c. Kham nhẫn nhưng cùng lúc tìm cách thay đổi&lt;br /&gt;d.Nên hoan hỷ vì có là cơ hội thử thách để chứng tỏ bản lãnh&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-6032954081699972350?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6032954081699972350'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6032954081699972350'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/chuong-duyen-thuan-duyen-sirivaddka.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-8122139409123142001</id><published>2012-01-14T00:40:00.003-08:00</published><updated>2012-01-15T12:05:24.174-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);font-family:Times New Roman;" &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;Đúng Là Con Phật Thì Không Sợ Ma&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dhajaggam: Ðầu Lá Cờ&lt;/b&gt; (S.i,218)&lt;/span&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;1)  Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana,     tại vườn ông Anàthapindika.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:     "-- Này các Tỷ-kheo." "-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."     Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;3) Thế Tôn nói như sau:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;4) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một     cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;5) Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka     gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;" -- Này thân hữu, khi các Ông lâm     chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên;     lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên     đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ     tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;6) Nếu các Ông không ngó lên đầu     ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương     Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati,     thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu     diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;7) Nếu các Ông không ngó lên đầu     ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của     Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương     Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ     tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;8) Nếu các Ông không ngó lên đầu     ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên     vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna,     thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu     diệt."&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;9) Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên     đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ     của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên     vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna,     thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể     sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;10) Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên     chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn     diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;11) Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau:     Này các Tỷ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi     đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có     khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: "Ngài là Thế Tôn,     Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian     Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế     Tôn".&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;12) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm     nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi     lên, sẽ được tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;13) Nếu các Ông không niệm nhớ     đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: "Ðây là Pháp do Thế Tôn     khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến     để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác     hiểu."&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;14) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm     nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi     lên sẽ tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;15) Nếu các Ông không niệm nhớ     đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ     tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là     bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng     Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám     chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường,     đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô     thượng phước điền ở trên đời."&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;16) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm     nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có     khởi lên sẽ tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc     Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không     hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;18) Thế Tôn nói như vậy, Thiện     Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói tiếp:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;i&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Này các vị Tỷ-kheo,&lt;br /&gt; Trong rừng hay gốc cây,&lt;br /&gt; Hay tại căn nhà trống,&lt;br /&gt; Hãy niệm bậc Chánh Giác.&lt;br /&gt; Các Ông có sợ hãi,&lt;br /&gt; Sợ hãi sẽ tiêu diệt.&lt;br /&gt; Nếu không tư niệm Phật,&lt;br /&gt; Tối thượng chủ ở đời,&lt;br /&gt; Và cũng là Ngưu vương,&lt;br /&gt; Trong thế giới loài Người,&lt;br /&gt; Vậy hãy tư niệm Pháp,&lt;br /&gt; Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.&lt;br /&gt; Nếu không tư niệm Pháp,&lt;br /&gt; Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,&lt;br /&gt; Vậy hãy tư niệm Tăng,&lt;br /&gt; Là phước điền vô thượng.&lt;br /&gt; Vậy này các Tỷ-kheo,&lt;br /&gt; Như vậy tư niệm Phật,&lt;br /&gt; Tư niệm Pháp và Tăng,&lt;br /&gt; Sợ hãi hay hoảng hốt,&lt;br /&gt; Hay lông tóc dựng ngược,&lt;br /&gt; Không bao giờ khởi lên.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;/i&gt;     &lt;/blockquote&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Kinh Tương Ưng Bộ. HT Thích Minh Châu dịch&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Sợ hãi thường là hiện tượng cảm xúc của tâm lý&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu tâm tưởng nghĩ hướng đến đối tượng tích cực thì sẽ vượt qua sự yếu đuối&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Muốn không sợ thì phải nương tựa chỗ vô úy. Phật, Pháp, Tăng là sự thể hiện của đại hùng, đại lực.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Thảo luận&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Ma được biết thế nào trong kinh điển Phật pháp&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Ma có đáng sợ không?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tâm trạng sợ ma là cảm xúc chủ quan hay khách quan?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Làm sao để bớt sợ ma hay hết sợ ma?&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-8122139409123142001?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8122139409123142001'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8122139409123142001'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/ung-la-con-phat-thi-khong-so-ma.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-2727847357456135294</id><published>2012-01-13T01:04:00.007-08:00</published><updated>2012-01-13T01:43:28.588-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;i   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-align: -webkit-auto; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#800000;"&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Hóa Độ Con Người Tội Lỗi&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-align: -webkit-auto; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  display: inline !important; float: none; font-family:'Times New Roman';font-size:medium;"  &gt;&lt;/span&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi đức Thế tôn ở thành Xá vệ, trong vườn Cấp cô độc, có tin đồn trong dân chúng về một tên cướp hung hãn biệt hiệu "Chuỗi Ngón Tay". Vì tên này hễ giết xong một mạng người thì chặt lấy một ngón tay xâu lại để sưu tập, như ngày nay ta sưu tập tem cò. Nhìn xâu chuỗi ngón tay ấy có bao nhiêu ngón tay là tên cướp biết ngay thành tích mình đã giết được bấy nhiêu mạng người, và lấy làm hãnh diện. Ước nguyện đặc biệt của Chuỗi Ngón Tay là phải giết cho được 1000 người để đắc đạo... thành Phật! Trải qua một thời gian, Chuỗi Ngón Tay đã giết được 999 mạng. Y phấn khởi vô cùng, chỉ còn một mạng nữa là tròn ước nguyện. Nhưng mọi người càng khôn ngoan, tránh đi lẻ tẻ qua các rừng vắng và làng mạc hẻo lánh. Bởi vậy Chuỗi Ngón Tay khởi lên một ý định ghê gớm là nếu trên đường không gặp ai để giết, thì y sẽ về giết mẹ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Từ tịnh thất của Ngài trong vườn Cấp cô độc, đức Thế tôn đọc được tâm ý tội lỗi của Chuỗi Ngón Tay, động từ tâm và quán thấy Chuỗi Ngón Tay đã đến thời được giáo hóa, Ngài đắp y ôm bát tiến về hướng sẽ gặp Chuỗi Ngón Tay. Những người chăn bò can ngăn Ngài, nhưng Thế tôn vẫn im lặng tiến bước. Khi trông thấy Ngài, Chuỗi Ngón Tay mừng rỡ đuổi theo để giết cho đủ số một ngàn sinh mạng. Nhưng Phật dùng thần thông khiến cho Chuỗi Ngón Tay không tài nào đuổi kịp, luôn luôn cách Ngài vài thước. Ngài vẫn đi khoan thai trong lúc Chuỗi Ngón Tay chạy "hộc xì dầu" mà vẫn không bao giờ đến gần Ngài được. Tức giận, y la lên:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này Sa môn kia, dừng lại.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ðức Phật trả lời :&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ta đã dừng từ lâu. Còn ngươi, sao chưa dừng?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ô hay sa môn sao lại nói dối?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Chuỗi Ngón Tay, ta nói dừng là dừng dục vọng từ bỏ gươm giáo, không còn ý hướng làm hại chúng sinh. Còn ngươi chưa dừng lại trên con đường ác.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Do từ lực của Phật, Chuỗi Ngón Tay được giáo hóa tức khắc, buông bỏ khí giới, quỳ mọp dưới chân Thế tôn để xin Ngài xuất gia. Ðức Thế tôn phán rằng: "Thiện lai, tỳ kheo", thì Chuỗi Ngón Tay liền trở thành một sa môn đường đường tăng tướng. Tỳ kheo Chuỗi Ngón Tay bắt đầu cuộc đời tu sĩ, theo hầu Phật trở về tinh xá Cấp cô độc ở thành Xá vệ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một hôm Phật đang ngự tại tinh xá cùng với chúng tỳ kheo vây quanh, thì có tin báo vua Ba-Tư-Nặc đến ra mắt. Vua mới quy y Phật chưa bao lâu. Ðức Thế tôn hỏi vua khi ông mới đến:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ðại vương có chuyện gì, mà thấy sắc diện đầy vẻ lo âu?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạch Thế tôn, trong xứ con có một tên cướp khét tiếng giết người mệnh danh Chuỗi Ngón Tay. Vì chưa trừ được nó, nên con buồn rầu lo ngại.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ðại vương, nếu bây giờ đại vương thấy Chuỗi Ngón Tay đắp ca sa, cạo bỏ râu tóc, xuất gia từ bỏ gia đình, từ bỏ sát sinh, giữ gìn giới cấm, sống phạm hạnh thanh tịnh và hành trì thiền pháp, thì đại vương sẽ đối xử như thế nào với Chuỗi Ngón Tay?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạch Thế tôn, Dĩ nhiên con sẽ cung kính đảnh lễ cúng dường các thứ cần dùng. Nhưng làm sao một kẻ cực kỳ hung ác như vậy mà lại hồi tâm, trở thành người thánh thiện được.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi ấy đức Thế tôn duỗi tay chỉ cho vua Ba Tư Nặc tỳ kheo Chuỗi Ngón Tay đang ngồi cách Thế tôn không xa. Vua thật kinh hồn vía, lông tóc dựng ngược, mặt mày biến sắc. Phật trấn an vua:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ðại vương đừng sợ. Chuỗi Ngón Tay quả thật đã xuất gia tu phạm hạnh rồi.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vua mới hoàng hồn tới gần tỳ kheo Chuỗi Ngón Tay thưa:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa tôn giả, xin tôn giả hoan hỉ. Tôi muốn cúng dường y phục, ẩm thực, mền gối và thuốc thang cho tôn giả.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Nhưng tôn giả Chuỗi Ngón Tay lập nguyện tu hạnh đầu đà, khất thực để sống, ngày chỉ ăn một bữa, ngủ gốc cây, nên tôn giả trả lời:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa Ðại vương, tôi đã đủ ba y.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vua Ba Tư Nặc khi ấy tiến bên Phật, hân hoan thốt lên:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thật hi hữu bạch Thế tôn! Ngài đã hàng phục một con người mà tất cả binh hùng tướng mạnh của con không hàng phục được.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sau khi tán thán công đức Thế tôn, vua từ giã ra về.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Hôm ấy, tôn giả Chuỗi Ngón Tay đắp y mang bát vào thành khất thực. Giữa đường tôn giả gặp một phụ nữ đang chuyển bụng đẻ, vô cùng đau đớn. Trông thấy cảnh tượng ấy, động mối từ tâm, tôn giả không ngớt kêu thầm: "Ôi đau khổ thay cho chúng sinh! Thật đau khổ thay!" Tôn giả trở về bên Phật thuật lại sự tình. Ðức Thế tôn dạy:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này Chuỗi Ngón Tay, nếu ngươi muốn cho người đàn bà kia hết đau đớn, thì hãy đến nói với bà ấy như sau: "Này chị, từ khi cha sanh mẹ đẻ tôi chưa bao giờ cố ý giết người. Mong rằng mãnh lực của sự thật này sẽ làn chị sinh đẻ an toàn, mẹ tròn con vuông!"&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Tôn giả Chuỗi Ngón Tay buồn bã thưa:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạch Thé Tôn nếu con nói như vậy thì hóa ra là một lời nói láo trắng trợn, đâu phải sự thật! Tại vì con đã cố ý giết rất nhiều mạng rồi.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Vậy thì ngươi hãy nói rằng:&lt;span class="Apple-converted-space"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;"Này chị, từ khi được thánh sanh, tôi chưa bao giờ cố ý giết mạng chúng sanh. Mong rằng mãnh lực của sự thật này sẽ làm cho chị sinh nở an toàn".&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-align: -webkit-auto; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  display: inline !important; float: none; font-family:'Times New Roman';font-size:medium;"  &gt;&lt;/span&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa vâng bạch Thế tôn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Tôn giả vâng lời, đến bên người sản phụ đẻ khó nói lời như trên. Và nhiệm mầu thay, bà sanh được.&lt;i&gt;(Tục lệ cầu an có lẽ bắt nguồn từ đó. V&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;ì kinh là chân ngôn của Phật, nói lên chân lý cao cả và thật nhất trong các sự thật.)&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-align: -webkit-auto; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  display: inline !important; float: none; font-family:'Times New Roman';font-size:medium;"  &gt;&lt;/span&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Tôn giả Chuỗi Ngón Tay sống một mình tinh cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A La Hán. Một buổi sáng Tôn giả đắp y vào thành khất thực. Trên đường tôn giả bị một bọn trẻ chăn trâu hung dữ ném đá gạch, roi gậy tứ tung vào đầu, vào tai, vào thân mình. Tôn giả bị lỗ đầu chảy máu, bát bể, y rách, xơ rơ xác rác trở về tinh xá, máu me ràn rụa. Ðức Thế tôn thương xót băng bó những vết thương cho Tôn giả rồi an ủi:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; -webkit-text-size-adjust: auto; -webkit-text-stroke-width: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255);  font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này Chuỗi Ngón Tay! Hãy kham nhẫn. Con đang gặt hái ngay đời này, quả báo của những ác nghiệp mà đáng lẽ con phải gánh chịu trong chảo dầu sôi ở địa ngục nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm!&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255); font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạch Thế tôn, mong rằng những kẻ hại con sẽ được thọ lãnh chánh pháp, thân tâm an tịnh.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255); font-family:'Times New Roman';font-size:medium;" align="LEFT"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p face="'Times New Roman'" size="medium" style="color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255); " align="LEFT"&gt;&lt;i   style="color: rgb(0, 0, 0);  font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255); font-family:'Times New Roman';font-size:medium;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;(Thích Nữ Trí Hải thuật theo kinh Angulimàla)&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="color: rgb(204, 0, 0); font-family: 'Times New Roman'; font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: bold; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; background-color: rgb(255, 255, 255); font-size: medium;" align="LEFT"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Tiềm năng giác ngộ không thể đánh giá đơn giản&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lằn ranh giữa  bờ mê bến giác đôi khi trong đường tơ kẻ tóc. Chỉ có bậc Vô Thượng Điều Ngư mới biết rõ căn tính của chúng sanh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Những gút mắt của nghiệp quả vốn trùng trùng quyện lấy nhau phải nhận thức bằng trí tuệ mới hiểu được.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Thảo luận&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Angulima hoàn lương là do thần thông của Đức Phật hay lời khai thị của Ngài?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Quả của nghiệp có trả theo "oan có đầu nợ có chủ" chăng? (nghĩa là giết người nào thì sẽ bị chính người đó giết lại)&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tại sao chân thật ngôn lại có những năng lực nhiệm mầu?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Một con người bị án theo luật vua phép nước có được xuất gia chăng?&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu nào dưới đây đúng với lời Phật dạy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a. Ai cũng có Phật tính nên tất cả đều đáng kính trọng&lt;br /&gt;b. Trả hết nghiệp thì sẽ thoát luân hồi&lt;br /&gt;b. Tuệ giác có năng lực cắt đứt dòng luân chuyển phức tạp của nghiệp  quả&lt;br /&gt;c. Thiện ác phân minh là thưởng thiện phạt ác&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-2727847357456135294?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2727847357456135294'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2727847357456135294'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/hoa-o-con-nguoi-toi-loi-khi-uc-ton-o.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-4318381429879173480</id><published>2012-01-10T04:20:00.004-08:00</published><updated>2012-01-10T04:31:25.523-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Dung Hơp Lý và Tình&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;p&gt;Khi Đức Phật trở về quê nhà ở Kapilavatthu và khi Đức          Vua Suddhodana thỉnh về cung điện trai tăng thì tất cả          mọi người đều ra đảnh lễ, nhưng công chúa Yasodhara thì          không. Bà nghĩ rằng: "Nếu vạn nhất ta còn giữ được          trong sạch một đức hạnh nào, thì chính Đức Thế Tôn          sẽ quang lâm đến đây. Chừng ấy ta sẽ đảnh lễ Ngài".&lt;/p&gt;         &lt;p&gt;Sau khi độ thực xong, Đức Phật trao bát lại cho Đức          Vua cầm, dắt theo hai vị đại đệ tử, bước vô phòng công          chúa, ngồi trên chỗ đã dọn sẵn cho Ngài và dạy: "Hãy          để công chúa tùy tiện đảnh lễ Như Lai theo ý thích. Không          nên nói gì."&lt;/p&gt;         &lt;p&gt;Lúc nghe Đức Phật về, công chúa truyền lệnh cho tất          cả thị nữ đều mặc y phục màu vàng. Khi Đức Phật vào          phòng và ngồi yên nơi, công chúa nhẹ nhàng bước đến,          dụm hai chân lại, quỳ xuống, khấu đầu trên chân Ngài và          đảnh lễ theo ý bà, rồi cung kính ngồi lại một bên.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Về sau, khi Đức vua Suddhodana băng hà, Hoàng Hậu Pajapati          Gotami xuất gia Tỳ khưu ni (Bhikkhuni), Công Chúa Yasodhara cũng          xuất gia và đắc Quả A La Hán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bà là người phụ nữ duy nhất được lễ Đức Phật như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Những  điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Để khai thi chúng sanh Đức Phật có phương cách thích hợp cho từng người&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lý trí tốt cho sự lãnh hội Phật pháp nhưng cũng phải nói đến yếu tố cảm xúc&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lòng từ bi hóa giải được nhiều phức cảm của chúng sanh&lt;br /&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-4318381429879173480?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4318381429879173480'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4318381429879173480'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/dung-hop-ly-va-tinh-khi-uc-phat-tro-ve.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-483851381704405433</id><published>2012-01-08T15:10:00.004-08:00</published><updated>2012-01-08T15:30:44.837-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Hơn Thua Rồi Được Gì?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2) -- Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận     nhau: "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật     này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo     chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói     sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương     ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm     của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự     thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được". Vì sao?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;3) Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không     liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa     đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,     Niết-bàn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;4) Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy     nói: "Ðây là Khổ"... hãy nói: "Ðây là Con Ðường đưa     đến Khổ diệt". Vì sao?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;5) Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ     đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh... một cố gắng cần phải làm...&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tương Ưng Bộ. HT Thích Minh Châu dịch&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những  điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Đề tài thảo luận của quan trọng như phương pháp  thảo luận&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu đàm luận chỉ để hơn thua thì  chẳng có giá trị gì&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhân quả của khổ đau, hạnh phúc (tứ đế) là điều đáng cho người có trí bàn thảo&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Thảo Luận&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Bàn về khổ thế nào là theo  tứ đế thế nào là theo phàm tình?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Làm sao để giảm thiểu thói quen tranh hơn thua trong  sự đàm luận?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu bị  "khích tướng" thì nên làm gì để khỏi rơi vào luận chiến vô ích?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Đức Phật có dạy "pháp tịnh khẩu (im lặng tuyệt đối) là pháp tu không?&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu nào dưới đây không  phải là Phật ngôn:&lt;br /&gt;a. Im lặng như mê si không phải là ẩn sĩ&lt;br /&gt;b. Nói ngàn lời vô ích không bằng nói một câu lợi lạc&lt;br /&gt;c. Im lặng là  vàng&lt;br /&gt;d. Nếu  nói thì nói chánh pháp; nếu im lặng thì  hãy im lặng như bậc thánh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-483851381704405433?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/483851381704405433'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/483851381704405433'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/hon-thua-roi-uoc-gi-2-nay-cac-ty-kheo.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-6788880223926450617</id><published>2012-01-08T02:14:00.001-08:00</published><updated>2012-01-06T03:55:56.393-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Ngộ Pháp Rồi Nhận Ra Phật&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ðối với người đi tìm          chân lý, một tư tưởng do từ đâu đến là điều không quan hệ. Nguồn gốc và          sự phát triển của một tư tưởng là vấn đề của học giả. Quả vậy, để hiểu          sự thật, chúng ta không cần biết đến ngay cả lời dạy đến từ đức Phật hay          từ một người nào khác. Ðiều thiết yếu là thấy rõ vấn đề, hiểu nó. Có một          câu chuyện quan trọng trong Trung bộ kinh (Majjhima-nikàya) (kinh số          140) làm sáng tỏ điều này.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một hôm, đức Phật ở          lại đêm trong xưởng một người thợ làm đồ gốm. Cũng trong xưởng ấy có một          ẩn sĩ trẻ đến đấy trước Ngà&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;i&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;a name="_ednref14" title=""&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;.&lt;i&gt;         &lt;/i&gt;Họ không biết nhau. Ðức Phật quan sát người ẩn sĩ và tự nhủ: "Thanh          niên này có những cử chỉ đáng mến. Ta nên hỏi xem về người này." Bởi thế          đức Phật hỏi người ấy: "Hỏi khất sĩ&lt;/span&gt;&lt;a name="_ednref15" title=""&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;,          nhân danh ai mà bạn đã từ bỏ gia đình? Ai là thầy của bạn? Bạn thích lý          thuyết của ai?"&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chàng thanh niên đáp:          "­ bạn ơi, có ẩn sĩ Cồ đàm dòng họ Thích ca, đã từ bỏ gia đình để trở          thành một ẩn sĩ. Người ta đồn rằng đấy là một vị Arahant (A-la-hán), một          bậc toàn giác. Chính nhân danh con người thánh thiện ấy mà tôi đã trở          thành một ẩn sĩ. Người là Thầy tôi, và tôi thích lý thuyết của người."&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Vậy chớ con người          Thánh thiện ấy, vị A-la-hán, đấng toàn giác ấy bây giờ ở đâu?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ở các xứ về phương          Bắc, hỏi bạn, có một đô thị gọi là Sàvatthi (Xá vệ). Chính đấy là nơi          đấng Thế Tôn, vị A-la-hán, đấng Toàn giác đang ở.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạn đã có khi nào          thấy vị ấy chưa, đấng Thế Tôn ấy? Nếu gặp Người, bạn có sẽ nhận ra Người          hay không?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Tôi chưa bao giờ          thấy đức Thế Tôn ấy. Nếu gặp Người, tôi cũng sẽ không làm sao nhận ra          được.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ðức Phật nhận ra rằng          chính nhân danh Ngài mà người thanh niên xa lạ này đã từ bỏ gia đình và          trở thành một khất sĩ. Nhưng vẫn không để lộ tông tích. Ngài bảo:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt; - Hỏi khất sĩ, tôi sẽ          dạy cho bạn lý thuyết. Hãy chú ý lắng nghe. Tôi sẽ nói.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Ðược, bạn nói đi.          Người trẻ tuổi chấp thuận.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi ấy đức Phật giảng          dạy cho thanh niên một bài thuyết pháp đặc sắc nhất về chân lý (mà ta sẽ          trình bày những điểm tinh yếu về sau)&lt;/span&gt;&lt;a name="_ednref16" title=""&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-style: normal;font-size:12pt;" &gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;.         &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;         &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chỉ sau khi nghe Ngài          thuyết pháp xong, ẩn sĩ tên Pukkusàti mới nhận ra rằng người nói với          mình chính là đức Phật. Anh cúi thấp mình dưới chân đức Ðạo sư, và xin          lỗi Ngài vì đã không biết mà gọi Ngài là "bạn"&lt;/span&gt;&lt;a name="_ednref17" title=""&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-style: normal;font-size:12pt;" &gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;.          Rồi người ấy cầu xin đức Phật truyền giới pháp và nhận mình vào đoàn thể          Tăng già.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Walpola Rahula. Thích Nữ Trí Hải dịch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;" class="MsoNormal"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;1. Thấy được chánh pháp tức là thấy được Phật, cũng có thể hiểu ngược lại.&lt;br /&gt;2. Bậc trí có thể hiểu lẽ thật mà không cần đặt vấn đề là ai nói điều đó&lt;br /&gt;3. Người học Phật Pháp ngày nay nếu khéo tác ý cũng có thể lãnh hội dù không trược tiếp nghe từ Đức Phật&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Thảo luận&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;1. Tại sao Đức Phật không cho Pukkusati biết từ ban đầu Ngài chính là người vị ấy đang tìm?&lt;br /&gt;2. Một bài pháp hay có thể được giảng bởi nhiều người tại sao Pukkusati nhận ra Đức Phật?&lt;br /&gt;3. Phải chăng những sự sùng bái cá nhân thường làm người ta quên đi giá trị của chánh pháp?&lt;br /&gt;4. Sự thật trong Phật Pháp khác biệt gì với sự thật của thế gian?&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;Trong câu chuyện được kể thì Pukkusati đã&lt;br /&gt;a. Nhận ra chánh pháp&lt;br /&gt;b. Nhận ra Đức Phật&lt;br /&gt;c. Nhận ra sự thật về bản thân&lt;br /&gt;d. Ba câu trên đều đúng&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-6788880223926450617?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6788880223926450617'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6788880223926450617'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/ngo-phap-roi-nhan-ra-phat-oi-voi-nguoi.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-3227775070212445578</id><published>2012-01-07T02:08:00.000-08:00</published><updated>2012-01-06T03:45:58.683-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0); font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;Những Yếu  tố của Thành Công&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;1. Có bốn bánh xe này, này các Tỷ-kheo, thành tựu     với chúng, bốn bánh xe được vận chuyển giữa chư Thiên và loài Người     thành tựu với chúng, chư Thiên và loài nguời không bao lâu đạt đến sự     lớn mạnh, tăng thịnh trong các tài sản. Thế nào là bốn? Trú xứ thích     hợp, thân cận các bậc Chân nhân, tự nguyện chân chánh, trước đã làm     phước.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Có bốn bánh xe này, này các Tỷ-kheo, thành tựu với     chúng, bốn bánh xe được vận chuyển giữa chư Thiên và loài Người, thành     tựu với chúng, chư Thiên và loài Người không bao lâu đạt đến sự lớn     mạnh, tăng thịnh trong các tài sản.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sống địa phương thích hợp,&lt;br /&gt;   Làm bạn với bậc Thánh,&lt;br /&gt;   Tự nguyện được chân chánh,&lt;br /&gt;   Trước đã làm phước đức&lt;br /&gt;   Người ấy về lúa gạo,&lt;br /&gt;   Tài sản và danh xưng,&lt;br /&gt;   Danh tiếng cùng an lạc,&lt;br /&gt;   Ðược đưa đến đầy đủ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Sự thành công trong cuộc sống đòi hỏi nhiều yếu tố như xe chạy với nhiều bánh xe.&lt;br /&gt;2. Nơi sinh sống thích hợp, thân cận bạn lành, khuynh hướng chân chánh, phước lành đã tạo là những yếu tố bảo đảm thành công&lt;br /&gt;3. Người đời hoặc chỉ tin số mạng hoặc chỉ tin vào nổ lực hiện tại. Cả hai cái nhìn đó đều phiến diện&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Thảo luận&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Phước báu do túc nghiệp có khiến một người sống với hoài bão chơn chánh không?&lt;br /&gt;2. Người ta thường nói thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ba pháp nầy có liên hệ những gì Phật dạy trong bài kinh?&lt;br /&gt;3. Nếu cảm thấy như "mình thiếu phước" thì nên làm gì?&lt;br /&gt;4. Phải chăng Phật Pháp dạy rằng nếu không có được bạn lành thì tốt hơn sống một mình?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người xưa nói: Tâm hảo mạng hựu hảo pháp đạt vinh hoa tảo; tâm hảo mạng bất hảo nhất sanh dã ôn bão; mạng hảo tâm bất hảo tiền trình khủng nan bảo; tâm mạng đô bất hảo cùng khổ trực đáo lão. (Tâm tốt mạng cũng tốt thì sớm phát đạt vinh hoa; tâm tốt mà mạng không tốt thì một đời ấm no; mạng tốt mà tâm không tốt thì khó giữ tiền đồ; tâm và mạng không tốt thì cả đời khốn khó)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu phải tìm ý nghĩa tương đương thì người Phật tử có thể nói là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a. Mạng chính là túc nghiệp&lt;br /&gt;b. Tâm chính là khuynh hướng&lt;br /&gt;c. Hai câu a và b  đều sai&lt;br /&gt;d. Hai câu a và b đều đúng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;       &lt;/i&gt;     &lt;/blockquote&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-3227775070212445578?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/3227775070212445578'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/3227775070212445578'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/nhung-yeu-to-cua-thanh-cong-1.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-3573153851132209743</id><published>2012-01-06T02:06:00.005-08:00</published><updated>2012-01-06T03:54:55.491-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Hãy là người bảo lưu truyền thống&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kinh Makhàdeva 83, Trung bộ kinh II trang 75 đề cập đến truyền thống của vua Makhadeva, vị vua này khi sợi tóc bạc đầu tiên hiện ra trên đầu của Ngài, liền giao ngôi báu cho hoàng tử, tự mình xuất gia tu đạo. Vua Makhedeva lại dặn hoàng tử lên ngôi trị vì cho đến khi sợi tóc bạc đầu tiên mọc lên thời liền trao ngôi báu cho hoàng tử của mình, còn mình thời xuất gia tu đạo. Vua Makhedeva lại dặn hàng tử lên ngôi trì vì cho đến khi sợi tóc bạc đầu tiên mọc lên thời liền trao ngôi báu cho hoàng tửi của mình, còn mình thời xuất gia tu đạo. Vua Makhedeva dặn dò phải giữ gìn truyền thống này đừng cho gián đoạn. Tuy vậy, truyền thống của vua Makhadeva được truyền cho đến khi vua Nemi là vị vua cuối cùng gìn giữ truyền thống này, con của vua Nemi là Kalàrajanaka lại không tiếp tục truyền thống này, không chịu xuất gia khi sợi tóc đầu tiên mọc trên đầu của mình và do vậy truyền thống của Makhàdeva bị chấm dứt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng truyền thống của Đức Phật của chúng ta lại khác. Chính Đức Phật xác nhận như sau trong Trung bộ I trang 82A:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   &lt;span style="font-style: italic;"&gt;"Này Ananda, truyền thống ấy của Makhàdeva không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết Bàn. Và này Ananda, thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập và truyền thống ấy đưa đến yểm ly ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết bàn? Chính là Thánh đạo tám Ngành này, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Ananda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết bàn. Này Ananda, về vấn đề này, Ta nói như sau: "Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các người chớ có thành tối hậu sau Ta". Này Anada, khi hai người còn tồn tại, và có sự dứt đoạn, người ấy là người tối hậu vậy. Này Ananda, Ta nói với người: "Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các người hãy tiếp tục duy trì, Các người chớ có thành người tối hậu sau ta" (Trung bộ II, 82 A).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   &lt;span style="font-style: italic;"&gt;HT Thích Minh Châu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      1. Bát chánh đạo là truyền thống tu tập được Đức Phật truyền dạy&lt;br /&gt;      2. Người con Phật không phải chỉ tu tập mà còn làm thế nào để chánh pháp được tồn tại.&lt;br /&gt;      3. Pháp bảo không phải là một tư hữu mà nên được phổ cập&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Thảo luận&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   1. Trong tam tạng Pali có chỗ nào dạy chỉ nên tu cho mình mà không nên hoằng pháp độ sinh?&lt;br /&gt;   2. Với nhiều người thì bát chánh đạo chỉ là "một trong nhiều pháp môn", ở đây Đức Phật dạy truyền thống do Ngài khởi xướng là bát chánh đạo vậy phải chăng bát chánh đạo là nội dung chủ đạo của sự tu tập?&lt;br /&gt;   3. Chữ truyền thống trong bài kinh nầy nên được hiểu thế nào?&lt;br /&gt;   4. Một người Phật tử bình thường có thể làm được gì để bảo lưu truyền thống chánh pháp?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Câu đố&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Câu nào dưới đây khế hợp với ý nghĩa của bài học hôm nay:&lt;br /&gt;   a. Truyền thống Đức Phật truyền dạy có nghĩa tôn chỉ hay tinh hoa truyền thừa&lt;br /&gt;   b. Bát chánh đạo được nêu lên là truyền thống Phật Pháp&lt;br /&gt;   c. Sự "xem nhẹ" bát chánh đạo là sự thiếu hiểu biết của người học Phật&lt;br /&gt;   d. ba câu trên đều đúng&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-3573153851132209743?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/3573153851132209743'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/3573153851132209743'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/hay-la-nguoi-bao-luu-truyen-thong-kinh.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-6725363934725500763</id><published>2012-01-05T03:15:00.002-08:00</published><updated>2012-01-05T03:19:51.397-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-family:Times New Roman;font-size:180%;"  &gt;Chấp hữu, chấp vô&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến     Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.&lt;/span&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả     Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- "Chánh kiến, chánh kiến",      bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến     như thế nào là chánh kiến?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;4) -- Này Kaccàyana, thế giới này phần     lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;5) Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ     thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là     không có. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới     đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;6) Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện     và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với     tâm không trú trước, không chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên     chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có     nghĩ: "Ðây là tự ngã của tôi". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi     khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân     vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như     vậy, này Kaccàyana, là chánh tri kiến.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;7) "Tất cả là có", này Kaccàyana,     là một cực đoan. "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như     Lai thuyết pháp theo trung đạo.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;8)&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;vô minh duyên hành; hành duyên thức;     thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên     thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh     duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên.&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt; Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham,     đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Do hành diệt     nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt     nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên     thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ     diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt.     Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt.      Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này     đoạn diệt.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ai thấy được sự tập khởi thì chẳng chấp không&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ai thấy được sự hoại diệt thì không chấp có&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Lý duyên khởi là giáo lý trung đạo vượt ngoài chấp hữu, chấp vô&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-6725363934725500763?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6725363934725500763'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6725363934725500763'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/chap-huu-chap-vo-ton-gia-kaccayanagotta.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-858187832810408219</id><published>2012-01-04T02:49:00.002-08:00</published><updated>2012-01-04T02:55:06.945-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Làm giàu có tốt không?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;p&gt;1. - Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong các tài sản. Thế     nào là năm?&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;2. Tài sản bị nguy hiểm về lửa; bị nguy hiểm về nước; bị     nguy hiểm về vua; bị nguy hiểm về trộm cướp; bị nguy hiểm     về các người thừa tự không khả ái.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong các tài sản.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;3. Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này trong các tài sản. Thế nào     là năm?&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;4. Nhờ tài sản, tự làm cho được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì     sự an lạc ấy; làm cho mẹ cha được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì     sự an lạc ấy; làm cho vợ con, các người phục vụ, các người làm công được     an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; làm cho bạn bè thân     hữu được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; đối với     các vị Sa-môn, Bà-la-môn, cung cấp các sự cúng dường hướng thượng, đưa     đến sự an lạc, dị thục liên hệ đến cõi trời và dẫn lên Thiên     giới.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này trong các tài sản.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Bạc tiền không phải là điều đáng chỉ trích; vấn đề là sử dụng đồng tiền thế nào&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu chỉ thủ đắc tài sản mà không làm gì lợi lạc cho ai thời tiền bạc là sự nguy hại&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Ai sống nghĩ tới lợi lạc người chung quanh mình thì càng có nhiều tiền càng nhiều lợi ích.&lt;br /&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-858187832810408219?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/858187832810408219'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/858187832810408219'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/lam-giau-co-tot-khong-1.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-4404476452195120701</id><published>2012-01-03T03:34:00.003-08:00</published><updated>2012-01-03T03:40:27.856-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;Trượt Ngã Trên Đất, Chống Đất Đứng Dậy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tạo Ðại Lâm,     giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ     Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn     thấy một Tỷ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên     chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời     bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau:     Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với     thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ     giải thoát. Thế nào là năm?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống     quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với     tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong     tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời     bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau:     Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với     thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ     giải thoát.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Tăng Chi Bộ, HT Thích Minh Châu dịch&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Thân bệnh là khổ mà cũng là chất xúc tác cho tuệ giác&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sự giác ngộ có thể đến từ cả hai thuận và nghịch cảnh&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ngưởi hiểu đạo, trong cơn bệnh hoạn, thay vì cầu nguyện có thể tu tập thiền quán&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-4404476452195120701?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4404476452195120701'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4404476452195120701'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/truot-nga-tren-at-chong-at-ung-day-1.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-4445753637580107014</id><published>2012-01-02T03:22:00.003-08:00</published><updated>2012-01-02T05:36:35.590-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Sống lợi lạc cho mình, cho đời&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;- Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho     người khác. Thế nào là ba? &lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp,     quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia.     Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết:     "Ðây là khổ", rõ biết: "Ðây là khổ tập", rõ biết:     "Ðây là khổ diệt", rõ biết: "Ðây là con đường đưa     đến khổ diệt", người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều     cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu     hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và     an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm     lợi ích nhiều cho người khác.&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người     khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho     người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả     ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân     thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc     trị bệnh ... &lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Tu tập bản thân là một đóng góp lớn cho cuộc đời&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Người giác ngộ sự thật mới có thể ban bố chân lý&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Pháp thí là tặng vật thù thắng nhất&lt;br /&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-4445753637580107014?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4445753637580107014'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4445753637580107014'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/song-loi-lac-cho-minh-cho-oi-co-ba-hang.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-8395119965832649955</id><published>2012-01-01T03:33:00.003-08:00</published><updated>2012-01-01T03:39:38.473-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Vấn đề nằm chỗ nào&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;strong style="font-weight: normal;"&gt;I. Kiết Sử&lt;/strong&gt; (S.iv,281)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;1) Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú     ở Macchikasanda, tại rừng Ambàtaka.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2) Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão,     sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và     giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị     kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ     khác ngôn từ?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;3) Ở đây, một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị     kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị     kiết sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;4) Lúc bấy giờ, cư sĩ Citta đi đến Migapathaka     để làm một số công việc phải làm.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;5) Cư sĩ Citta được nghe có một số đông Tỷ-kheo     trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi     nhà tròn, và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên:     "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này     là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?" Một số     Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay các     pháp bị kiết sử; những pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ". Một     số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay     các pháp bị kiết sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn     từ".&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;6) Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng     lão ấy; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống     một bên.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;7) Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo     trưởng lão:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Bạch chư Thượng tọa, (chúng con) được nghe có     một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về,     ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa các vị này, khởi lên câu     chuyện sau đây: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị     kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ     khác ngôn từ". Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư     Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp này đồng     nghĩa, chỉ khác ngôn từ".&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Có vậy, này Cư sĩ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;8) -- Bạch chư Thượng tọa, kiết sử hay các pháp     bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa và cũng khác ngôn từ. Bạch chư     Thượng tọa, con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị. Ở đây, một số     người có trí, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa lời nói.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;9) Bạch chư Thượng tọa, ví như một con bò đực     đen và con bò đực trắng được dính lại với nhau bởi một sợi dây hay một     cái ách. Nếu có người nói: "Con bò đực đen là kiết sử cho con     bò đực trắng, và con bò đực trắng là kiết sử cho con bò đực đen".     Nói như vậy có phải là nói một cách chơn chánh không?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Thưa không, này Cư sĩ. Này Cư sĩ, con bò đực đen     không phải là kiết sử của con bò đực trắng. Và con bò đực trắng cũng     không phải là kiết sử của con bò đực đen. Do vì chúng bị dính bởi một     sợi dây hay bởi một cái ách, ở đây chính cái ấy là kiết sử.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;10) -- Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không     phải là trói buộc của các sắc; các sắc không phải là trói buộc của con     mắt. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây     chính là trói buộc. Cái tai không phải là trói buộc của các tiếng... Mũi     không phải là trói buộc của các hương... Lưỡi không phải là trói buộc của     các vị... Thân không phải là trói buộc của các xúc... Ý không phải là trói     buộc của các pháp. Các pháp cũng không phải là trói buộc của ý. Và ở     đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói     buộc.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;11) -- Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích     thay cho Ông, này Cư sĩ! Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục (kamati)     lời dạy thâm sâu của đức Phật.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-style: italic;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;HT Thích Minh Châu dịch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-style: italic;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Hệ lụy nằm ở phiền não chứ không phải ở căn hay cảnh&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chúng sanh thường tự trách mình hay oán giận cuộc đời nhưng không thấy được mấu chốt của vấn đề&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ý thức được nguyên nhân thật sự của khổ đau là một nền tảng quan trọng của giải thoát&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-8395119965832649955?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8395119965832649955'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8395119965832649955'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2012/01/van-e-nam-cho-nao-i.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-7729005411653594250</id><published>2011-12-31T04:19:00.004-08:00</published><updated>2011-12-31T05:36:57.156-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Không Nên Khinh Thường Tuổi Trẻ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi     (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;2) Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala     (Kiều-tát-la) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với     Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào     đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;3) Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước     Kosala bạch Thế Tôn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng     Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;4) -- Thưa Ðại vương, nếu có ai có     thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng     Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã chứng     Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;5) -- Thưa Tôn giả Gotama, có những vị     Sa-môn, Bà-la-môn là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội,     có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn     sùng. Như ngài Purana Kassapa, Makkali Gosàla, Nigantha Nàtaputta, Sanjaya     Belatthiputta, Kakudha Kaccàyana, Ajita Kesakambala. Khi con hỏi các vị ấy: "Có     tự xem là đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?", thời     họ đã trả lời, không tự xem mình đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh     giác. Vậy làm sao Tôn giả Gotama, trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn, và chỉ mới     xuất gia lại tự cho mình như vậy?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;6) -- Thưa Ðại vương, có bốn loại trẻ     tuổi không nên khinh thường, hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.     Thế nào là bốn?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Thưa Ðại vương, Khattiya trẻ tuổi không     nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thưa Ðại     vương, con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì     chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường     hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, Tỷ-kheo trẻ     tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Thưa Ðại vương, bốn loại trẻ tuổi này     không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;7) Thế Tôn nói như vậy. Nói xong, bậc     Thiện Thệ lại nói thêm như sau:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;8) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sanh dòng Sát-đế-lỵ,&lt;br /&gt;    Thuộc quý tộc, danh xưng,&lt;br /&gt;    Chớ khinh thường là trẻ,&lt;br /&gt;    Chớ miệt thị là nhỏ.&lt;br /&gt;    Vị Sát-đế-lỵ ấy,&lt;br /&gt;    Ðến thời lên ngôi vua,&lt;br /&gt;    Làm chúa tể loài Người,&lt;br /&gt;    Trị vì cả quốc độ.&lt;br /&gt;    Vị ấy nếu phẫn nộ,&lt;br /&gt;    Dùng vương phạt gia hình,&lt;br /&gt;    Ai bảo tồn mạng mình,&lt;br /&gt;    Hãy tránh né vị ấy.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;9) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ở làng hay là rừng,&lt;br /&gt;    Có thấy rắn bò qua,&lt;br /&gt;    Chớ khinh thường rắn trẻ,&lt;br /&gt;    Chớ miệt thị rắn nhỏ,&lt;br /&gt;    Cao thấp hình sai biệt.&lt;br /&gt;    Rắn sống đầy nhiệt khí,&lt;br /&gt;    Bị tấn công, nó cắn,&lt;br /&gt;    Kẻ ngu cả nam nữ,&lt;br /&gt;    Ai bảo tồn mạng mình,&lt;br /&gt;    Hãy tránh né loài rắn.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;10) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Lửa cháy đầy khát vọng,&lt;br /&gt;    Lửa đốt thiêu, đốt cháy,&lt;br /&gt;    Chớ khinh thường lửa trẻ,&lt;br /&gt;    Chớ miệt thị lửa nhỏ.&lt;br /&gt;    Lửa được đồ bén cháy,&lt;br /&gt;    Liền cháy to, cháy lớn,&lt;br /&gt;    Bị tấn công, lửa đốt,&lt;br /&gt;    Kẻ ngu cả nam nữ,&lt;br /&gt;    Ai bảo tồn mạng mình,&lt;br /&gt;    Hãy tránh né lửa cháy.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;11) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khu rừng bị lửa đốt,&lt;br /&gt;    Lửa đốt thiêu, đốt cháy,&lt;br /&gt;    Sau nhiều đêm và ngày,&lt;br /&gt;    Rễ mầm lại mọc lên.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;12) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Còn Tỷ-kheo trẻ giới,&lt;br /&gt;    Nồng cháy với nhiệt tình,&lt;br /&gt;    Nhưng không con, không cái,&lt;br /&gt;    Không của cải truyền thừa,&lt;br /&gt;    Không con, không thừa tự,&lt;br /&gt;    Như thân cây tala.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;13) &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;blockquote&gt;       &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Do vậy, người hiền trí,&lt;br /&gt;    Tự thấy hạnh phúc mình,&lt;br /&gt;    Ðối với rắn và lửa&lt;br /&gt;    Danh xưng Sát-đế-lỵ,&lt;br /&gt;    Vị Tỷ-kheo trì giới,&lt;br /&gt;    Với bốn vị kể trên,&lt;br /&gt;    Hãy biết cách cư xử,&lt;br /&gt;    Chơn chánh và tốt đẹp.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/blockquote&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;14) Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala     bạch Thế Tôn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!     Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì     bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người     bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có     thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều     phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế     Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ     nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-style: italic;" align="LEFT"&gt;HT Thích Minh Châu dịch&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Già trẻ không phải là thước đo tuệ giác&lt;br /&gt;Nói lên sự thực chứng không phải là thái độ thiếu khiêm tốn&lt;br /&gt;Thấy được cái sai trong nhận thức của mình là bước đầu tiến tới hiểu biết sự thật&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-7729005411653594250?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7729005411653594250'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7729005411653594250'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/khong-nen-khinh-thuong-tuoi-tre-mot.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-1512193863912957069</id><published>2011-12-30T02:31:00.000-08:00</published><updated>2011-12-30T02:32:08.164-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-fareast-font-family:"Times New Roman";  mso-fareast-theme-font:minor-fareast;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Trước Những Khen Chê&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo. &lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Rạng sáng hôm sau, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và nhắc lại chuyện hôm qua. &lt;span style="mso-spacerun:yes"&gt; &lt;/span&gt;Đức Thế Tôn đi đến, nghe vậy dạy rằng:&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;- Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;- Bạch Thế Tôn, không thể được!&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;- Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi". &lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi". &lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai.&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:&amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-family:&amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;"&gt;Khen chê là chuyện thường của thế gian&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;"&gt;Ngay cả Đức Phật cũng có người tán thán, kẻ chê trách&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:&amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;"&gt;Người phàm phu tán thán Đức Phật nhưng ít khi hiểu rõ Ngài&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-1512193863912957069?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1512193863912957069'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1512193863912957069'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/normal-0-false-false-false-en-us-x-none_30.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-283902955140612460</id><published>2011-12-29T06:28:00.000-08:00</published><updated>2011-12-29T05:24:26.308-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-Ru0oTgIHPoQ/TvXlLTVcIHI/AAAAAAAABOw/ScxvNtXuCuY/s1600/thap%2Bchuong%2B1.bmp"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 300px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-Ru0oTgIHPoQ/TvXlLTVcIHI/AAAAAAAABOw/ScxvNtXuCuY/s400/thap%2Bchuong%2B1.bmp" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5689705686584008818" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tháp chuông chùa Pháp Luân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-VgzntuHfz0E/TvXhnWoLuGI/AAAAAAAABOk/2S79V4YASgM/s1600/thap%2Bchuong.JPG"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-283902955140612460?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/283902955140612460'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/283902955140612460'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/thap-chuong-chua-phap-luan.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-Ru0oTgIHPoQ/TvXlLTVcIHI/AAAAAAAABOw/ScxvNtXuCuY/s72-c/thap%2Bchuong%2B1.bmp' height='72' width='72'/></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-9085016481041723886</id><published>2011-12-29T04:08:00.003-08:00</published><updated>2011-12-29T05:24:08.823-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Không Phải Chỉ Có Hai Đường&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;Lúc bấy giờ Thế Tôn ở Sàvatthi     (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn,     với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn,     sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị     Thiên ấy bạch Thế Tôn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;-- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi     bộc lưu?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;-- Này Hiền giả, không đứng lại, không     bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;-- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại,     không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;     &lt;/span&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style=";font-family:Times New Roman;font-size:100%;"  &gt;-- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời     Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy,     này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Tương Ưng Bô. Kinh Cây Lao&lt;br /&gt;HT Thích Minh Châu dịch&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);" align="LEFT"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sự lựa chọn của chúng sanh nghèo nàn, cục bộ vì vô minh&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Không phải sự lựa chọn nào chỉ có hai hướng làm hoặc không.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đạo giải thoát vốn không nằm trong quan kiến thường tình&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p align="LEFT"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-9085016481041723886?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/9085016481041723886'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/9085016481041723886'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/khong-phai-chi-co-hai-uong-luc-bay-gio.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-8599417257495869674</id><published>2011-12-28T03:13:00.003-08:00</published><updated>2011-12-29T04:08:45.991-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Một vài cách minh họa của Đức Phật&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;  &lt;p&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Trong cái nhìn và ngôn ngữ của một bậc Đại Giác, Đức Phật có những cách diễn tả rất khác thường nhưng đầy ý vị trong sự tả chân.&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Nói về một thành phố sầm uất, phú cường :&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;i style=""&gt;Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahà-Sudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển Luân vương trị vì như pháp, là vị Pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Ðại Thiện Kiến, tên là Kusàvati (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến mười bảy do tuần. Này Ananda, kinh đô Susàvati này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực thẩm phong phú. Này Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư Thiên rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Cũng vậy này Ananda, kinh đô Kusàvati này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn. Này Ananda, kinh đô Kusàvati này ngày đêm vang dậy mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiềng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: "Hãy uống đi, hãy ăn đi!".&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Nói về một nữ nhân đẹp:&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;i style=""&gt;Này Ananda, nữ báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, sánh đến dung sắc chư Thiên. Này Ananda, thân xúc nữ báu này êm mịn như bông, như nhung. Này Ananda, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thành ấm áp, khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này Ananda, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này Ananda, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Ðại Thiện Kiến, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này Ananda, nữ báu này không có một tư tưởng nào bất tín đối với vua Ðại Thiện Kiến huống nữa là về thân thể. Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Ðại Thiện Kiến.&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Hai lời mô tả trích nguyên văn từ Kinh Đại Thiện Kiến, Trường Bộ. HT Thích Minh Châu dịch&lt;/p&gt;  &lt;p&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/p&gt;    &lt;ol&gt;&lt;li&gt;Không phải vì là một bậc giải thoát mà Bậc Thế Gian Giải không có cái nhìn khách quan về thế giới nầy.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm vị nhận thức tuy tùy mỗi cá nhân nhưng cũng có những chuẩn mực nhất định&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Cái cái đẹp của tự nhiên thường thì cũng có cái “vừa phải” như trung đạo trong hành trình giác ngộ.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-8599417257495869674?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8599417257495869674'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8599417257495869674'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/normal-0-false-false-false-en-us-x-none_28.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-6405447252664645408</id><published>2011-12-27T04:07:00.004-08:00</published><updated>2011-12-27T05:36:27.837-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0); font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Đức Phật là Người Chỉ Đường&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Bà la môn Ganaka hỏi Đức Phật: "Có phải khi sa môn Gotama giảng dạy như vậy, thời tất cả đệ tử của Ngài đều chứng được cứu cánh Niết Bàn?" Đức Phật trả lời là một số chứng được cứu cánh Niết Bàn, một số không chứng được.&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;Đức Phật trả lời một cách rất nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng rất thiết thực và tuyệt diệu, giữ đúng vị trí của bậc Đạo sư đối với các đệ tử:&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;em&gt;"Cũng vậy, này Bà la môn, trong khi có một Niết Bàn, có một con đường đưa đến Niết Bàn và trong khi có mặt Ta là người chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh Niết Bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà la môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường". &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt;&lt;em&gt;HT Thích Minh Châu &lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;  &lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Đức Phật là bậc đạo sư hướng dẫn, ngườ Phật tử phải hành trì mới có kết quả&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Chỉ với niềm tin mà không thực hành Phật Pháp thì không đạt đến cứu cánh&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-style: normal;"&gt;Phật Pháp là con đường giáo dục mà mỗi cá nhân sau khi hấp thụ phải tự mình chuyển hóa&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;  &lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-6405447252664645408?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6405447252664645408'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/6405447252664645408'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/normal-0-false-false-false-en-us-x-none_27.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-7512098741320479399</id><published>2011-12-26T03:50:00.004-08:00</published><updated>2011-12-26T04:54:22.526-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Lời khen của bậc Đại Giác&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần Thiên chủ Sakka muốn diện kiến và nghe Đức Phật giảng dạy. Thiên chủ gởi Càn Thát Bà Pancasikha đến gặp Đức Phật để xin phép. Càn thát bà ôm cây đàn beluva đến chỗ Đức Thế Tôn và hát bản thiên nhạc nầy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ôi Suriya Vaccasa!&lt;br /&gt;Ta đảnh lễ Timbaru,&lt;br /&gt;Bậc phụ thân của nàng,&lt;br /&gt;Ðã sanh nàng thiện nữ,&lt;br /&gt;Nguồn hạnh phúc của ta,&lt;br /&gt;Như gió cho kẻ mệt.&lt;br /&gt;Như nước cho kẻ khát,&lt;br /&gt;Nàng là tình của ta.&lt;br /&gt;Như pháp với Ứng Cúng,&lt;br /&gt;Như thuốc cho kẻ bệnh,&lt;br /&gt;Như đồ ăn kẻ đói,&lt;br /&gt;Thiên nữ với nước mắt.&lt;br /&gt;Hãy dập tắt lửa tình!&lt;br /&gt;Như voi bị nắng thiêu,&lt;br /&gt;Tẩm mình hồ nước mát,&lt;br /&gt;Có cánh sen, nhụy sen.&lt;br /&gt;Cũng vậy, ta muốn chìm,&lt;br /&gt;Chìm sâu vào ngực nàng.&lt;br /&gt;Như voi bị xiềng xích,&lt;br /&gt;Hất móc câu, gậy nhọn,&lt;br /&gt;Ta điên vì ngực nàng,&lt;br /&gt;Hành động ta rối loạn.&lt;br /&gt;Tâm ta bị nàng trói,&lt;br /&gt;Di chuyển thật vô phương,&lt;br /&gt;Rút lui cũng bất lực,&lt;br /&gt;Như cá đã mắc câu.&lt;br /&gt;Hiền nữ hãy ôm ta,&lt;br /&gt;Trong cánh tay của nàng!&lt;br /&gt;Hãy ôm ta, nhìn ta,&lt;br /&gt;Trong ánh mắt dịu hiền.&lt;br /&gt;Hãy ghì chặt lấy ta,&lt;br /&gt;Thiện nữ! Ta van nàng!&lt;br /&gt;Ôi Hiền nữ suối tóc,&lt;br /&gt;Ái dục ta có bao!&lt;br /&gt;Nhưng nay đã tăng bội,&lt;br /&gt;Như đồ chúng La Hán!&lt;br /&gt;Mọi công đức ta làm,&lt;br /&gt;Dâng lên bậc La Hán,&lt;br /&gt;Ôi Kiều nữ toàn thiện,&lt;br /&gt;Nàng là quả cho ta.&lt;br /&gt;Công đức khác của ta,&lt;br /&gt;Ðã làm trên đời này!&lt;br /&gt;Ôi Kiều nữ toàn thiện,&lt;br /&gt;Nàng là quả của ta!&lt;br /&gt;Vị Thích tử thiền tu,&lt;br /&gt;Nhứt tâm và giác tỉnh,&lt;br /&gt;Tìm cầu đạo Bất tử,&lt;br /&gt;Cũng vậy ta cầu nàng!&lt;br /&gt;Như người tu sung sướng,&lt;br /&gt;Chứng Bồ Ðề tối thượng.&lt;br /&gt;Kiều nữ, ta sung sướng,&lt;br /&gt;Ðược nhập một với nàng,&lt;br /&gt;Nếu Thiên chủ Sakka,&lt;br /&gt;Cho ta một ước nguyện,&lt;br /&gt;Ta ước nguyện được nàng,&lt;br /&gt;Vì ta quá yêu nàng!&lt;br /&gt;Như ta-la sanh quả,&lt;br /&gt;Tuệ Nữ, phụ thân nàng!&lt;br /&gt;Ta sẽ đảnh lễ ngài,&lt;br /&gt;Vì sanh nàng vẹn toàn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:&lt;br /&gt;- Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Cái đẹp của lời ca tiếng nhạc là cùng tiết tấu nhưng không lấn át nhau&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Một bậc đoạn tận lậu hoặc không có nghĩa là không có khả năng phân biệt tốt, xấu , hay, dở.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Thái độ bao dung  của Đức Phật với kẻ si tình Pancasikha là bài học đẹp trong cách xử thế.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Lời bản thiên nhạc và lời của Đức Thế Tôn do HT Thích Minh Châu dịch&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-7512098741320479399?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7512098741320479399'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7512098741320479399'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/loi-khen-cua-bac-ai-giac-mot-lan-thien.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-2344645802942980463</id><published>2011-12-25T02:42:00.003-08:00</published><updated>2011-12-25T06:24:58.601-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Cho cái cần thiết chứ không phải cái mong muốn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đức Thế Tôn trở về cố hương Kapilavatthu lần đầu. Lúc ấy hoàng tử Rahula lên bảy tuổi. Công nương Yasodhara dắt tay con mình lên lầu cao rồi chỉ cho Rahula hình ảnh Đức Phật và chư tăng đang đi trì bình trong thành bảo rằng: “Con yêu, vị sa môn tướng hảo trang nghiêm thanh tú dẫn đầu các vị tu sĩ đó chính là cha con. Con hãy đi theo Ngài và xin Ngài trao truyền ngôi vàng và những kho châu báu”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng tử vâng lời mẹ đi theo Đức Phật. Khi Đức Thế Tôn về tới công viên Nirodha, nơi trú ngụ của Ngài, Rahula bạch Phật: Con thấy rất thích ở gần Ngài. Rồi hoàng tử cũng không quên lời mẹ dặn thưa rằng: Ngài là cha của con, con là con của Ngài. Xin Ngài cho con ngai vàng và báu vật. Đức Thế Tôn quay sang tôn giả Sariputta nói rằng: "Ta sẽ cho đứa con nầy tài sản của bậc thánh". Rồi dạy Tôn giả cho Rahula xuất gia làm một sa di.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Cái mà chúng sanh mong mỏi chưa hẳn là cái tốt nhất cho mình&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Trong sự nguyện cầu nên tự hỏi nếu Đức Phật hiện tiền ngài sẽ ban bố cho mình những gì?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Có những giá trị lớn với thế gian nhưng hoàn toàn vô nghĩa với bậc thiện trí&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-2344645802942980463?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2344645802942980463'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2344645802942980463'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/cho-cai-can-thiet-chu-khong-phai-cai.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-1566615990533066600</id><published>2011-12-24T04:04:00.003-08:00</published><updated>2011-12-24T06:26:21.455-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0); font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;Dư luận và phản ứng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;Đức Phật hóa độ hằng ngàn thiện nam tử xuất gia chỉ trong vài tháng đầu ngắn ngủi hoằng hóa tại xứ Magadha. Ngoại đạo và quần chúng bị tác động đã công kích Đức Phật khi gặp chư tăng đi khất thực. Nói nói rằng: “Chính do sa môn Gatama mà nhiều gia đình bị đổ vỡ;  nhiều người vợ sống không chồng; nhiều gia tộc mất những đứa con cưng ưu tú”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những tỳ kheo gặp sự công kích như vậy đến diện kiến bạch Phật. Đức Thế Tôn dạy rằng: Những chuyện đó sẽ chấm dứt trong bảy ngày. Nếu cần trả lời hãy nói rằng: Các đấng Như Lai là bậc đại hùng sống với chánh pháp, hành xử với pháp của bậc trí vậy nên phàn nàn với ai đây?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Khen chê thương ghét là sự thường không ai tránh khỏi&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Không  phải sống với lòng bi mẫn cho đời mà không bị thế gian chỉ trích&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Bậc trí sống y cứ trên lẽ phải chứ không phải công luận&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-1566615990533066600?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1566615990533066600'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1566615990533066600'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/du-luan-va-phan-ung-uc-phat-hoa-o-hang.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-1131343499110577313</id><published>2011-12-23T03:45:00.002-08:00</published><updated>2011-12-23T05:27:20.667-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;Một lời như mở tấc lòng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Du sĩ Sariputta và du sĩ Moggallana là bạn đồng song thân thiết từ thuở thiếu thời. Lớn lên hai người đề có chí tầm đạo. Họ ước hẹn nếu một người tìm ra chân lý thì sẽ báo cho người kia biết. Một ngày du sĩ Sariputta gặp một sa môn với tướng hảo trang nghiêm, thanh tịnh, các căn trong sáng. Được hỏi thì vị sa môn nầy cho biết là đệ tử Phật, bậc đại giác dòng Thích Ca. Nói về giáo pháp của Đức Phật thì vị nầy khiêm tốn trả lời vì xuất gia chưa bao lâu nên không có kiến văn quảng bác nhưng có thể chia sẽ điều nẩy: Pháp sanh do duyên cũng do duyên mà diệt. Đức Phật, bậc đại sa môn, dạy như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe lời ấy, du sĩ Sariputta chứng sơ đạo. Khi gặp bạn thân của mình  ngài thuật lại những gì được nghe.  Du sĩ Moggallana cũng ngộ đạo giải thoát. Về sau cả hai trở thành nhị vị thượng thủ thinh văn trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;Những điểm chính&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Bậc trí dù nghe được giáo pháp trong một câu ngắn cũng thay đổi cả cuộc đời.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Chính nhân sanh cũng là nhân diệt.  Chúng sanh không nhận thức được điều nầy&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Mấu chốt của giáo pháp là khai thị để thấy được chân tướng vạn pháp&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-1131343499110577313?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1131343499110577313'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/1131343499110577313'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/mot-loi-nhu-mo-tac-long-du-si-sariputta.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-4079437923665603045</id><published>2011-12-22T03:46:00.004-08:00</published><updated>2011-12-22T04:08:24.495-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;&lt;br /&gt;Phải đợi nói thẳng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đức Phật độc hành hướng về Uruvela với chủ tâm độ ba đạo sĩ Kassapa. Ngài ngõ ý muốn ngụ qua đêm tại cổ miếu mà ai cũng ngại đến vì có một mãng xà vương sống trong ấy. Những đạo sĩ can ngăn nhưng không được. Hôm sau mọi người vui mừng thấy chẳng những Đức Thế Tôn bình an mà còn thu phục được mãng xà. Nhiều ngày sau đó các đạo sĩ mục kích nhiều năng lực thần thông của Đức Phật cùng với những lần thăm viếng của chư thiên và phạm thiên.  Đạo trưởng của nhóm là Uruvela Kassapa mỗi lần chứng kiến như vậy đề nghĩ là: “Sa môn trẻ nầy quả là đại uy lực. Dù vậy vẫn không phải là A la hán như ta.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối cùng, trong một cơn lũ lụt Đức Thế Tôn hiển hóa thần thông thành một con đường kinh hành khô ráo. Vị đạo trưởng vẫn có suy nghĩ như những lần trước. Đức Phật nói thẳng rằng: “Hởi Kassapa, người không phải là A la hán, cũng chẳng biết hành trình dẫn đến quả vị A la hán. “ Lời nói thấu tâm can đó của Đức Phật khiến đạo sĩ tĩnh ngộ và xuất gia theo Phật cùng tòa thể đồ chúng đệ tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);"&gt;Những điểm lưu ý&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Sở chấp chúng sanh trong đời kiên cố hơn người ta nghĩ&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Con người có đạo hạnh cao dễ rơi vào “tăng thượng mạn”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Những lời nói “trúng tim đen” thường có tác dụng thay đổi cái nhìn&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-4079437923665603045?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4079437923665603045'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/4079437923665603045'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/phai-oi-noi-thang-uc-phat-oc-hanh-huong.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-5957801221354127531</id><published>2011-12-21T03:11:00.002-08:00</published><updated>2011-12-21T03:59:21.697-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Câu hỏi mang sức thuyết phục&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;Sau ngày thành đạo Đức Phật quyết định thuyết bài pháp đầu tiên tại Lộc Uyển, Isipatana cho 5 đạo sĩ Kondanna. Những vị nầy vốn từng theo Đức Phật trong thời gian khổ hạnh nhưng đã bỏ Ngài ra đi vì thất vọng rằng Đức Phật không đủ sức kiên trì với pháp tu hành xác. Trong giây phút tái ngộ đầu tiên năm đạo sĩ có thái độ ân cần trước phong thái siêu phàm của Đức Phật nhưng gọi Ngài bằng avuso – hiền hữu, một cách xưng gọi với bạn ngang hàng. &lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;Đức Phật thấy cần thiết để thay đổi lối xưng hô đó nên nói rằng: Như lai đã giác ngộ, các thầy không nên gọi như vậy. Lời đó không làm thay đổi ngôn ngữ của các đạo sĩ. Đức Phật lập lại đến lần thứ ba rồi Ngài hỏi rằng: Trước đây có bao giờ Như Lai nói như vậy với các thầy &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;chưa?. Câu hỏi đó mang đầy sức thuyết phục. Cả năm cung kính đón nhận huấn từ và trở thành những đệ tử xuất gia đầu tiên của Đức Điều Ngự.&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(255, 0, 0);" class="MsoNormal"&gt;Những điểm lưu ý:&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;  &lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Calibri;"&gt;&lt;span style=""&gt;a.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Bằng tâm ngạo mạn chúng sanh khó lãnh hội pháp mầu.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Calibri;"&gt;&lt;span style=""&gt;b.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Con người thường dùng thành kiến để phán xét sự việc&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-family:Calibri;"&gt;&lt;span style=""&gt;c.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Không nên đáng giá bậc cao nhân bằng lý lẽ thường thức&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-5957801221354127531?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/5957801221354127531'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/5957801221354127531'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/normal-0-false-false-false-en-us-x-none_21.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-2095551314187833414</id><published>2011-12-20T04:32:00.002-08:00</published><updated>2011-12-20T05:26:45.970-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Phật không phải là linh thần&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center; font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;Trên đường đi đến Lộc Uyển từ Gaya, Đức Thế Tôn gặp đạo sĩ Upaka. Vị nầy trông thấy phong thái cao quý, thanh tịnh của Đức Phật liền đến gần hỏi rằng: Các căn của Ngài thanh tịnh chói sáng. Phải chăng Ngài là một thiên thần hay siêu nhân?.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;Đức Phật trả lời: “Ta là Phật. Người giác ngộ, đoạn tận phiền não. Ta đang đi về xứ Kasi chuyển Pháp luân, giống lên tiếng trống bất tử giữa thế gian mù lòa”&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;Nghe thế Upaka thất vọng thốt lời: Mong là vậy. Rồi bỏ đi. Với người nầy thì một bậc giác ngộ không có gì quan trọng diện kiến. Gặp được thần tiên mới là điều đáng nói.&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;  &lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);" class="MsoNormal"&gt;Những điểm chính&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span style=""&gt;a.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Trong đời sống tâm linh chúng sanh thường đặt nặng tín ngưỡng hơn sự minh triết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span style=""&gt;b.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;/span&gt;Con người vốn chuộng linh thần hơn chân lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;span style=""&gt;c.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Không phải ai gặp Phật cũng hữu duyên như nhau&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-2095551314187833414?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2095551314187833414'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/2095551314187833414'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/normal-0-false-false-false-en-us-x-none.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-7600826973478109562</id><published>2011-12-19T05:21:00.007-08:00</published><updated>2011-12-19T06:02:29.657-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;Giáo trình lớp PHẬT PHÁP BUDDHADHAMMA&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div  style="text-align: center; color: rgb(0, 102, 0); font-weight: bold; font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;Thông Điệp Của Hy Vọng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;Sau  khi thành đạo có một ngày Đức Thế Tôn an tọa dưới cội cây Ajapala. Bất chợt Ngài nghĩ rằng: Giáo pháp mà Như Lai đã giác ngộ quả thật thậm thâm vi diệu, khó cho chúng sanh nhận hiểu. Đại phạm thiên Sahampatti đọc được ý tưởng nầy hiện ra trước Đức Thế Tôn cung thỉnh Ngài tuyên thuyết giáo pháp vì sẽ có chúng sanh lãnh hội được.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;Đức Thiện Thệ dùng Phật nhãn quán sát thế gian. Ngài thấy rằng chúng sanh trong đời như những đóa sen có mầm còn ẩn trong bùn, có hoa đã mọc trong nước, cũng có nụ đã vươn lên khỏi mặt hồ, có những  hoa sen đã nở sẳn sàng đón nhận ánh sáng ban mai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;Đức Phật đã tuyên bố: “Cánh cửa bất tử rộng mở. Những ai có tai muốn nghe  có thể xóa tan những tin tưởng sai lạc.”  Con đường hóa đạo của Đức Điều Ngự khởi đi từ đó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;(Mahavagga- Luật Tạng)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:trackmoves/&gt;   &lt;w:trackformatting/&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:donotpromoteqf/&gt;   &lt;w:lidthemeother&gt;EN-US&lt;/w:LidThemeOther&gt;   &lt;w:lidthemeasian&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeAsian&gt;   &lt;w:lidthemecomplexscript&gt;X-NONE&lt;/w:LidThemeComplexScript&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;    &lt;w:splitpgbreakandparamark/&gt;    &lt;w:dontvertaligncellwithsp/&gt;    &lt;w:dontbreakconstrainedforcedtables/&gt;    &lt;w:dontvertalignintxbx/&gt;    &lt;w:word11kerningpairs/&gt;    &lt;w:cachedcolbalance/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;   &lt;m:mathpr&gt;    &lt;m:mathfont val="Cambria Math"&gt;    &lt;m:brkbin val="before"&gt;    &lt;m:brkbinsub val="&amp;#45;-"&gt;    &lt;m:smallfrac val="off"&gt;    &lt;m:dispdef/&gt;    &lt;m:lmargin val="0"&gt;    &lt;m:rmargin val="0"&gt;    &lt;m:defjc val="centerGroup"&gt;    &lt;m:wrapindent val="1440"&gt;    &lt;m:intlim val="subSup"&gt;    &lt;m:narylim val="undOvr"&gt;   &lt;/m:mathPr&gt;&lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" defunhidewhenused="true" defsemihidden="true" defqformat="false" defpriority="99" latentstylecount="267"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="0" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Normal"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="heading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="9" qformat="true" name="heading 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 7"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 8"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" name="toc 9"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="35" qformat="true" name="caption"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="10" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" name="Default Paragraph Font"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="11" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtitle"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="22" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Strong"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="20" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="59" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Table Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Placeholder Text"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="1" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="No Spacing"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" unhidewhenused="false" name="Revision"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="34" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="List Paragraph"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="29" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="30" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Quote"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 1"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 2"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 3"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 4"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 5"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="60" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="61" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="62" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Light Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="63" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="64" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Shading 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="65" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="66" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium List 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="67" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 1 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="68" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 2 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="69" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Medium Grid 3 Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="70" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Dark List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="71" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Shading Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="72" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful List Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="73" semihidden="false" unhidewhenused="false" name="Colorful Grid Accent 6"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="19" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="21" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Emphasis"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="31" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Subtle Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="32" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Intense Reference"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="33" semihidden="false" unhidewhenused="false" qformat="true" name="Book Title"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="37" name="Bibliography"&gt;   &lt;w:lsdexception locked="false" priority="39" qformat="true" name="TOC Heading"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:"Table Normal";  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-priority:99;  mso-style-qformat:yes;  mso-style-parent:"";  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin-top:0in;  mso-para-margin-right:0in;  mso-para-margin-bottom:10.0pt;  mso-para-margin-left:0in;  line-height:115%;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:11.0pt;  font-family:"Calibri","sans-serif";  mso-ascii-font-family:Calibri;  mso-ascii-theme-font:minor-latin;  mso-hansi-font-family:Calibri;  mso-hansi-theme-font:minor-latin;  mso-bidi-font-family:"Times New Roman";  mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;p  style=" color: rgb(204, 0, 0); font-weight: bold;font-family:times new roman;" class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Những điểm chính&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:100%;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;p class="MsoListParagraphCxSpFirst"  style="text-indent: -0.25in; font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="mso-bidi-mso-bidi-theme-font:minor-latin;font-family:Calibri;" &gt;&lt;span style="mso-list:Ignore"&gt;a.&lt;span style="font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal;  line-height: normal; font-size-adjust: none; font-stretch: normal; -moz-font-feature-settings: normal; -moz-font-language-override: normal;font-size:7pt;" &gt;     &lt;span style="font-size:100%;"&gt;a.&lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;Chúng sanh khó lãnh hội chánh pháp vi diệu vì còn nhiều phiền não&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:100%;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;p class="MsoListParagraphCxSpMiddle"  style="text-indent: -0.25in; font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="mso-bidi-mso-bidi-theme-font:minor-latin;font-family:Calibri;" &gt;&lt;span style="mso-list:Ignore"&gt;b.&lt;span style="font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal;  line-height: normal; font-size-adjust: none; font-stretch: normal; -moz-font-feature-settings: normal; -moz-font-language-override: normal;font-size:7pt;" &gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;b. Trong một cái nhìn khác thì chúng sanh trong đời có tiềm năng giác ngộ như hoa sen trong hồ&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:100%;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;p class="MsoListParagraphCxSpLast"  style="text-indent: -0.25in; font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="mso-bidi-mso-bidi-theme-font:minor-latin;font-family:Calibri;" &gt;&lt;span style="mso-list:Ignore"&gt;c.&lt;span style="font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal;  line-height: normal; font-size-adjust: none; font-stretch: normal; -moz-font-feature-settings: normal; -moz-font-language-override: normal;font-size:7pt;" &gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;c. Giáo pháp dành cho những ai “có tai muốn nghe”&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-7600826973478109562?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7600826973478109562'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7600826973478109562'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/12/giao-trinh-lop-phat-phap-buddhadhamma.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-7024786328838665760</id><published>2011-11-28T02:44:00.000-08:00</published><updated>2011-11-28T02:45:10.557-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;color:#800000;"&gt;&lt;strong&gt;Trung Bộ Kinh&lt;br /&gt;  &lt;em&gt;Majjhima Nikaya&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;h2 align="CENTER"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;color:#800000;"&gt;19. Kinh Song tầm&lt;br /&gt;  &lt;em&gt;(Dvedhàvitakka sutta)&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;   &lt;hr width="25%"&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Tôi nghe như vầy:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại   Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế   Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Chư Tỷ-kheo". --"Thưa vâng",   các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như   sau: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;-- Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa   thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư   và chia hai suy tầm". Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào,   hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân   tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt   tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: "Dục tầm này khởi   lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người,   đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não,   không đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục   tầm này đưa đến tự hại", dục tầm được biến mất, Chư   Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục tầm đưa đến hại người", dục   tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục tầm đưa   đến hại cả hai", dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta   suy tư: "Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không   đưa đến Niết-bàn", dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo,   như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật,   nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên... (như trên)... hại tầm khởi lên.   Ta tuệ tri: "Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa   đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt   trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến   Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Hại tầm này đưa   đến tự hại"... "Hại tầm diệt trí tuệ, dự phần vào   phiền não, không đưa đến Niết-bàn", hại tầm biến mất.   Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.   &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều   vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư   Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị   ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có   khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán   sát nhiều về sân tầm... (như trên)... về hại tầm, vị ấy từ bỏ   vô hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh   hướng về hại tầm. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về   mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi   đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng.   Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa   đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư   Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế   nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh   tịnh của các thiện pháp.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật,   nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như   vầy: "Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục tầm này không đưa   đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả   hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến   Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát   (về ly dục tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư   Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không   phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban   ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta   thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi;   khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất   khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn   tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy?   Vì để tâm Ta khỏi dao động. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật,   nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi vô sân tầm khởi lên... (như trên)... vô   hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri như vậy: "Vô hại tầm này khởi lên nơi   Ta và vô hại tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại   người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự   phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo,   nếu ban đêm... không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và   nếu Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân   mệt mỏi thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động, tâm rất khó được   định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm,   khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để   tâm Ta khỏi dao động. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát   nhiều về vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn   đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều   về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục   tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu   Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân tầm... (như trên)...   nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ   bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có   khuynh hướng về bất hại tầm. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả   lúa gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi   người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể   nghĩ đến có việc cần phải làm, và người ấy nghĩ: "Ðây là   những con bò". Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải   làm, và Ta nghĩ: "Ðây là những pháp".&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không   có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không   có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp,   chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có   tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng   thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly   hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc   Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả   lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú   Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu   nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản   như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các   đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời,   mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời,   một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều   hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta   nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như   thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ   khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi   chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta   có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế   này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi   thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta   được sanh ra ở đây". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá   khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng   được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng   sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu   nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản   như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với   thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh.   Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp   đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của   họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời   nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các   nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung,   phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh   nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện   hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ   báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh   kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các   thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh   siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng   sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may   mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta   chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh   sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu   nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản   như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật:   "Ðây là khổ", thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của   khổ", thắng tri như thật: "Ðây là khổ diệt", thắng tri như   thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt", thắng tri như   thật: "Ðây là những lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là   nguyên nhân các lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là các lậu   hoặc diệt", thắng tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến   các lậu hoặc diệt". &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy,   tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu.   Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta   đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,   việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p align="left"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng   được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng   sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có   một hồ nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một   người đến, không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được   hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con   đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người   ấy sẽ chận đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ   đặt con mồi đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một   thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần. Chư Tỷ-kheo, có   một người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh   phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào   được yên ổn, được an toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con   đường nguy hiểm lại, sẽ đem con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái.   Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy sau một thời gian sẽ được tăng   trưởng, hưng thịnh, thành mãn. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích   ý nghĩa như sau: Chư Tỷ-kheo, hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục.   Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình. Chư Tỷ-kheo, con   người không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc,   không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho ác ma. Chư   Tỷ-kheo, con đường nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám ngành,   tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh   tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ cho hỷ và   tham. Chư Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô minh. Chư Tỷ-kheo, còn người   muốn chúng được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an   ổn khỏi các ách nạn chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Con   đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho con đường Thánh   đạo Tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh   nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an   toàn, đưa đến hoan hỷ, Ta đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi   con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư   cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng họ, những   điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo,   đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có   phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo   ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;b&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;color:#000080;"&gt;&lt;em&gt;Hòa thượng Thích Minh   Châu dịch&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-7024786328838665760?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7024786328838665760'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/7024786328838665760'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/11/trung-bo-kinh-majjhima-nikaya-19.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-9215429046505798989</id><published>2011-11-27T22:57:00.000-08:00</published><updated>2011-11-28T00:46:38.728-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-N5yVIli69Ek/TtJ1-sJbDKI/AAAAAAAABOY/MOLgJy03lBc/s1600/13.jpg"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 153, 0);font-size:180%;" &gt;Lịch sử Ðức Phật Thích Ca&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-1FojZnI0AqM/TtHi44J98aI/AAAAAAAABNo/oKa8BARAF54/s1600/03.JPG"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 666px; height: 447px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-1FojZnI0AqM/TtHi44J98aI/AAAAAAAABNo/oKa8BARAF54/s400/03.JPG" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5679570071865651618" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(153, 0, 0); font-weight: bold;"&gt;1. Thái tử Tất Ðạt Ða ra đời&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày rằm tháng 4, năm 623 trước công nguyên tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni) gần thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ), một nơi hiện nay là vùng biên giới giữa Nêpan và Ấn Ðộ, Ðức Phật Thích Ca đã giáng sinh, làm Hoàng tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Maha Maya (Ma Da). Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Sakya (Thích Ca).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì Hoàng hậu Maha Maya qua đời bảy ngày sau khi Thái tử sinh ra, cho nên Thái tử được bà dì Maha Pajapati Gotami (Maha Ba xà ba đề), trực tiếp nuôi nấng, dạy dỗ, còn người con trai của Bà dì là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi dưỡng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tên riêng của vị Phật tương lai là Si Ðác Ta (Tất Ðạt Ða), tên giòng họ Ngài là Gotama (Cồ Ðàm). Vì giòng họ nầy thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca), cho nên sau nầy có danh hiệu Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni). Muni là bậc Thánh, Sakya Muni là bậc thánh thuộc bộ lạc Thích Ca.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-zhTibF_-7fk/TtI5i0rTMXI/AAAAAAAABN0/l6y7jdTFAIk/s1600/05.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 660px; height: 443px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-zhTibF_-7fk/TtI5i0rTMXI/AAAAAAAABN0/l6y7jdTFAIk/s400/05.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5679665350486208882" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;2. Ðạo sĩ A Tư Ðà và Thái tử&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ngày Thái Tử Si Ðác Ta đản sanh là ngày hội vui lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô Kapilavastu ăn mừng. Một vị Ðạo sư già tên là Asita (A Tư Ðà) cũng từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy mã lạp sơn) đến cung vua để chào mừng và xem tướng Thái tử. Gặp Thái tử, đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Ðạo sĩ tuy cuời mà vẻ mặt thoáng buồn. Ðược hỏi vì cớ sao, Ðạo sĩ Asita trả lời là ông mừng vì Thái tử tương lai sẽ thành Phật, bậc giác ngộ và thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn, giác ngộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong kinh Sutta-Nipata (Kinh Tập, 101), có kể truyện đạo sĩ Asita đang tu trên núi Tuyết sơn, được chư Thiên mách bảo, bèn xuống núi, đến thành Kapilavastu xem tướng cho Thái tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thấy Thái tử chói sáng&lt;br /&gt;Rực rỡ như vàng chói,&lt;br /&gt;Trong lò đúc nấu vàng,&lt;br /&gt;Ðược thợ khéo luyện thành&lt;br /&gt;Bừng sáng và rực rỡ,&lt;br /&gt;Với dung sắc tuyệt mỹ...&lt;br /&gt;Sau khi thấy Thái tử,&lt;br /&gt;Chói sáng như lửa ngọn,&lt;br /&gt;Thanh tịnh như sao Ngưu,&lt;br /&gt;Vận hành giữa hư không,&lt;br /&gt;Chói sáng như mặt trời,&lt;br /&gt;Giữa trời thu mây tạnh.&lt;br /&gt;Ấn sĩ tâm hân hoan&lt;br /&gt;Ðược hỷ lạc rộng lớn".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và đạo sĩ Asita nói là Thái tử tương lai sẽ tu chứng Phật quả, vì lòng từ thương xót chúng sanh mà truyền bá chánh pháp trên thế gian nầy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thái tử này sẽ chứng,&lt;br /&gt;Tối thượng quả Bồ đề&lt;br /&gt;Sẽ chuyển bánh xe Pháp,&lt;br /&gt;Thấy thanh tịnh tối thẳng&lt;br /&gt;Vì lòng từ thương xót,&lt;br /&gt;Vì hạnh phúc nhiều người,&lt;br /&gt;Và đời sống phạm hạnh,&lt;br /&gt;Ðược truyền bá rộng rãi".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng vì nghĩ mình đã già, không còn sống được bao lâu nữa, để có thể trực tiếp nghe Ðức Phật thuyết pháp, cho nên đạo sĩ buồn và nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thọ mạng ta ở đời,&lt;br /&gt;Còn lại không bao nhiêu,&lt;br /&gt;Ðến giữa đời sống Ngài&lt;br /&gt;Ta sẽ bị mệnh chung.&lt;br /&gt;Ta sẽ không nghe Pháp,&lt;br /&gt;Bậc tinh cần vô tỷ,&lt;br /&gt;Do vậy ta sầu não,&lt;br /&gt;Bất hạnh và khổ đau..." (Kinh Tập, 103)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-l_hC3zjMPLA/TtJFqB1MPkI/AAAAAAAABOA/qS5gPPVTZIk/s1600/08.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 664px; height: 449px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-l_hC3zjMPLA/TtJFqB1MPkI/AAAAAAAABOA/qS5gPPVTZIk/s400/08.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5679678668415974978" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;3. Cuộc sống của Thái tử trong thời niên thiếu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thái Tử Si Ðác Ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: văn chương và võ nghệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Thái tử lên bảy tuổi, những thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (ngôn ngữ học và văn học), Công xảo minh (Công kỹ nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học), và Nội minh (Ðạo học). Về Ðạo học, Thái tử được dạy về 4 sách Thánh Veda, là các sách Thánh của Bà la môn giáo. Sách kể rằng: chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Ðến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống giòng giõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas, Sát đế lỵ). Nhờ có sức khỏe phi thường, Thái tử học môn võ gì cũng giỏi; về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc thi chỉ bắn xuyên được ba lớp trống đồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tuổi 16, Thái tử cưới công chúa Yasodhara (Da du đà la), đồng lứa tuổi với Thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. Về quãng đời ấy của Ngài, Ðức Phật kể lại như sau với các Tỷ kheo, đệ tử của Ngài:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này các Tỷ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỳ kheo, là không từ Kasi đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, này các Tỳ kheo, bằng vải Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Ðêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỳ kheo, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta..." (Tăng Chi 1, 161 - 162).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-a9fOsYADKTU/TtJU-OogQZI/AAAAAAAABOM/3E4LFTI_VA0/s1600/11.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 697px; height: 472px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-a9fOsYADKTU/TtJU-OogQZI/AAAAAAAABOM/3E4LFTI_VA0/s400/11.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5679695508124221842" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;4. Quyết tâm xuất gia tầm đạo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ngày nọ, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị tu sĩ với dung sắc giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau, và chết; những hình ảnh siêu thoát của vị Tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy được con đường dẫn đến giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết bàn bất tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: "Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xãy ra". Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La hầu la).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-N5yVIli69Ek/TtJ1-sJbDKI/AAAAAAAABOY/MOLgJy03lBc/s1600/13.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 665px; height: 446px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-N5yVIli69Ek/TtJ1-sJbDKI/AAAAAAAABOY/MOLgJy03lBc/s400/13.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5679731799930637474" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;5. Sự từ bỏ vĩ đại&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử, lòng nặng chĩu tình thương chúng sanh chìm đắm trong bể khổ và Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Thế rồi vào một đêm Thái tử ra lệnh cho người nô bộc trong thành là Channa (Xa nặc) thắt con ngựa Kantaka (Kiền trắc). Trước khi xuất phát, Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Yasodhara (Da du đà la) và người con trai đang ngủ thiếp. Thái tử hé cửa nhìn vào, Thái tử rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của Thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó, Thái tử một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau, chỉ có người nô bộc trung thành Channa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc của một hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm ấy, Thái tử tròn 29 tuổi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về. Còn Thái tử một mình ra đi, với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá. Chân không và đầu để trần, Ngài đi bình thản giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lý tưởng cao cả tìm ra sự thật tối hậu, lý lẽ của sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát, cõi Niết bàn bất tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;6. Ðến học hai đạo sĩ Alara Kalama và Uddaka Ramaputta&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thời bấy giờ, tình hình chính trị tại các xứ ở Ấn Ðộ khá ổn định, nhiều nhà tri thức lỗi lạc, xuất gia tu đạo, trở thành đạo sư tâm linh với nhiều đệ tử theo học. Thái tử Si Ðác Ta, trên đường đi tầm đạo, đã tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du già và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Alara Kalama chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ramaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới, hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du già thời bấy giờ chứng đạt được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên, và được hai đạo sư mời ở lại, cùng với họ lãnh đạo chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết bàn, sự chấm dứt sanh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình cầu đạo của mình. Qua thực nghiệm, Ngài thấy chân lý tối hậu, Niết Bàn, chấm dứt mọi đau khổ của sinh tử luân hồi, không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc Ðạo sư nào. Chân lý tối hậu đó phải chính do Ngài tự tìm lấy, tự chứng ngộ lấy ở bên trong nội tâm của Ngài, không thể dựa vào một tha lực nào khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;7. Tu khổ hạnh sáu năm&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. Ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chạy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây, lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Ðúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ, rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định. Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya, Vappa, Mahanama và Asaji. Kondanna vốn là vị đạo sĩ trẻ tuổi nhất, trong số các đạo sĩ được vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời bấy giờ, ở Ấn Ðộ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. Ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu, vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử, tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử, đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Banares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử Si Ðác Ta đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;8. Chứng Bốn Chân Lý Tối Hậu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa, do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường, sau đó, Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện thành đạo vĩ đại của Ngài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với tâm định tỉnh, nhu nhuyến, trong sáng như gương, Ngài suy tư về lẽ sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác so mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, lậu hoặc, vô minh, đã được giải thoát và giác ngộ, và thành tựu đạo Vô thượng. Ngài đã thành Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này, Ðức Phật đã kể lại cho các đệ tử Tỳ kheo nghe về cảnh giới chứng ngộ của mình như sau: "Nầy các Tỳ kheo! Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn, và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ nguy hại của cái bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn... Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị giao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa". (Kinh Thánh Cầu, Kinh Trung Bộ I, 268).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, sau 6 năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi. Thái Tử Si Ðác Ta đã chứng ngộ chân lý cứu kinh vô thượng và trở thành Ðức Phật, bậc Toàn giác mà sự xuất hiện là chuyện hy hữu nhất trên đời này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ nay, thế gian tôn xưng Ngài là Ðức Phật Gotama hay là Ðức Phật Thích Ca Cồ Ðàm. Từ Pali, "Buddha" (Phật Ðà) có chữ gốc "Buddh" là hiểu biết, giác ngộ chân lý tối hậu, cứu kinh. Sách Pali gọi Ngài là Sammà Sambuddha, với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy; bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình, mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;9. Ðức Phật do dự trước khi chuyển bánh xe Pháp&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Chuyển Pháp Luân là chuyển bánh xe Pháp, tức là truyền bá cho thế gian biết về đạo Pháp mà Phật đã chứng ngộ. Ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ đề, sau khi đã chứng quả giác ngộ vô thượng, Ðức Phật có suy nghĩ như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng nầy thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'duyên khởi ra các pháp' (Paticcasamuppada): sự kiện nầy thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp thì các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta" (Trung Bộ I, 268 - 269).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng rồi Ðức Phật nhìn quanh một lượt khắp thế gian với con mắt trí tuệ và suy nghĩ rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"... Có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nưóc thấm ướt. Cũng vậy, nầy các Tỳ kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh ở thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và nầy các Tỳ kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Cửa bất tử rộng mở&lt;br /&gt;Cho những ai chịu nghe&lt;br /&gt;Hãy từ bỏ tin tâm&lt;br /&gt;Không chính xác của mình.." (Trung Bộ I, 271)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Ðức Phật quyết định sẽ gióng lên tiếng trống của Pháp, sẽ chuyển bánh xe Pháp, sẽ tuyên bố với thế gian, với loài người và loài Trời, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường đạo dẫn tới cõi bất tử, cõi Niết Bàn. Thế là bánh xe Pháp bắt đầu chuyển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;10. Ðức Phật giảng Pháp đầu tiên tại Vườn Nai, gần thành Ba La Nại (Benares)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Như đã nói trên, năm tu sĩ, bạn đồng tu của Thái tử, ở Uruvela, nay vẫn tiếp tục tu khổ hạnh ở vườn Nai gần thành phố Benares. Họ rời bỏ Thái tử, vì họ tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, giữa đường bỏ cuộc. Nhưng thực ra, sau 6 năm tu khổ hạnh, Thái Tử đã thực nghiệm và thấy rõ tất cả sự vô ích và vô lý của lối tu khổ hạnh, ép xác chỉ làm con người suy yếu về thân xác, mệt mỏi về tinh thần. Và Thái tử ở lại một mình, kiên trì, phấn đấu và cuối cùng đã giác ngộ, thành Phật dưới gốc cây Bồ đề.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài trời, Ðức Phật nghĩ ngay tới 2 vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả 2 ông này đều đã qua đời cách đây không lâu. Với Phật nhãn, Ðức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benarès và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Ðức Phật lên đường đi Benarès. Tại đây, ở vườn Nai gần Benarès, Ðức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Ðức Phật thành đạo. Sau nầy, nó được biểu trưng một cái bánh xe, có 2 con nai nâng đỡ hai bên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, Vườn Nai, cũng gọi là Lộc Uyển. Bánh xe - Dhammacakka - tức là bánh xe Pháp, sách Hán dịch là Pháp luân. Cả đầu đề bài kinh là Dhammacakkappavattana, có nghĩa là "chuyển bánh xe Pháp".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;11. Nội dung Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Trong bài kinh này, Ðức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm lính. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng có hại, vô ích. Ðức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên, và theo con đường Trung Ðạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt và giải thoát tối hậu. Ðó là con đường đạo tám nhánh nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chánh Ðạo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chánh tri kiến: Thấy biết chân chánh.&lt;br /&gt;Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, ý chí chân chánh.&lt;br /&gt;Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, tức là không nói dối, không nói ác, không nói chia rẽ, không nói lời vô nghĩa.&lt;br /&gt;Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, tức là không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không rượu chè.&lt;br /&gt;Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề chân chánh, không phải bằng nghề bất lương, như buôn bán lừa đảo, buôn vũ khí và thuốc độc, buôn bán nô tỳ...&lt;br /&gt;Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ điều bất thiện, làm mọi điều tốt lành.&lt;br /&gt;Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh, không nghĩ nhờ điều tà vạy, ác xấu, mê lầm.&lt;br /&gt;Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con đường tám nhánh là con đường đạo chân chánh, dẫn tới chấm dứt mọi đau khổ, phát khởi trí tuệ, đưa đến Niết bàn, là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi vòng sống chết luân hồi, là sự thanh tịnh tuyệt đối và an lạc tuyệt đối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, Ðức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, cũng gọi là bốn chân lý Thánh, bởi vì chúng được phát hiện và tuyên thuyết bởi bậc thánh vĩ đại nhất là Ðức Phật. Ðó là chân lý về sự khổ (sách Hán gọi là Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường đạo diệt khổ (Ðạo đế).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe xong bài thuyết pháp này, và một bài thứ hai có đầu đề "Anttalakkhana sutta", bàn về thuyết vô ngã (không có cái Ta), năm vị tu sĩ ở vườn Lộc Uyển được giác ngộ và không bao lâu trở thành A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;12. Ðức Phật giác ngộ cho Yasa và những người bạn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Gần Benares, có con trai người triệu phú tên là Yasa, tuy sống cuộc đời đầy đủ xa hoa, nhưng lại sớm chán cảnh sốngv thế gian tầm thường vô vị. Yasa tìm đến Ðức phật, bộc lộ với Ðức Phật tâm trạng chán chường của mình, và được Ðức Phật thuyết pháp về hạnh bố thí, về nếp sống đạo đức, về các cõi Trời, về nguy hại của dục lạc thế gian, về hạnh phúc của nếp sống Thánh, hỷ xả, không tham trước. Và sau đó, Ðức Phật giảng cho Yasa vế bốn chân lý cao cả: sự khổ, nguyên nhân của khổ, cảnh giới Niết bàn an lạc và con đường đạo tám nhánh dẫn tới Niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cha của Yasa, trên đường đi tìm con trai, cũng đến Vườn Nai và được nghe Phật thuyết pháp, ông xin Phật cho quy y và trở thành người đệ tử tại gia đầu tiên của Phật. Còn Yasa thì xin Phật cho xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán. Khi Ðức Phật đến thăm nhà cha của Yasa theo lời thỉnh cầu của ông này, thì cả người mẹ và người vợ cũ của Yasa cũng xin quy y làm đệ tử tại gia của Ðức Phật. Bốn người bạn của Yasa là Vimala, Subaha, Tunnaji và Barampati, noi gương Yasa cũng xin xuất gia, và không bao lâu đều chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, hơn năm mươi người bạn khác của Yasa, từ các gia đình và địa phương khác nhau, nghe tin Yasa chứng được Thánh quả, cũng đều tụ tập về đây xin xuất gia theo Ðức Phật, và sau một thời gian, tất cả đều chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;13. Ðoàn Tăng sĩ thuyết pháp đầu tiên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Bấy giờ, Ðức Phật có sáu mươi đệ tử đều là A la hán. Ngày quyết định phái họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Ðức Phật đã động viên họ với lời lẽ như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Hỡi các Tỳ kheo, Ta đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất gian".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Các ngươi cũng vậy, hỡi các Tỳ kheo, cũng đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Hãy đi! Hỡi các Tỳ kheo, vì lợi lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng. Hãy truyền bá đạo pháp, hỡi các Tỳ kheo. Ðạo pháp toàn thiện, ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn, hãy tuyên bố về cuộc sống Thánh, toàn thiện và thanh tịnh..." (Mahavagga 19).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỳ kheo, dịch âm từ chữ Pali "Bhikkhu", nghĩa là "Người khất thực". Ðức Phật, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, với 60 người học trò đã chứng quả A la hán, tổ chức thành một tăng đoàn những tu sĩ khất thực, không có nhà ở cố định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và bình bát để xin ăn... Thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và cuộc sống thánh hạnh, tự mình nêu gương sáng về cuộc sống Thánh hạnh và giải thoát, đó là sự nghiệp, là nội dung công tác chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên, do Ðức Phật đích thân thành lập và chỉ đạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;14. Giác ngộ cho ba mươi thanh niên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Ðức Phật phái các đệ tử mỗi người đi một ngã để truyền bá chánh pháp, Ngài cũng lên đường đến Uruvela. Dọc đường, Ngài ngồi nghỉ ở một gốc cây, trong một khu rừng nhỏ. Lúc bấy giờ, có ba muơi thanh niên nhà giàu, đem vợ theo đến vui chơi giải trí trong chính khu rừng đó. Trong số này, có một thanh niên chưa vợ. đem theo một kỹ nữ. Trong khi họ đang vui đùa, thì người kỹ nữ lẫn trốn với nhiều của cải và đồ trang sức của họ. Các thanh niên lùng bắt người kỷ nữ trong khu rừng, gặp Ðức Phật và hỏi Ngài có thấy người phụ nữ trẻ qua đây không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật hỏi: "Hỡi các thanh niên, tìm người kỹ nữ tốt, hay là tìm thấy bản thân mình tốt hơn?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họ đều trả lời là tìm thấy bản thân mình tốt hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói: "Thế thì được! Các bạn trẻ, hãy ngồi lại đây, Ta sẽ thuyết pháp cho".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các thanh niên kính lễ Phật với thái độ trân trọng rồi ngồi xuống nghe Phật giảng pháp. Nhờ nghe pháp, họ được giác ngộ và xin phật cho xuất gia làm Tỳ kheo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;15. Ba anh em ông Kassapa (Ca Diếp) được giác ngộ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Gần Uruvela, có ba tu sĩ khổ hạnh là ba anh em ông Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa, và Gaya Kassapa. Người anh lớn, Uruvela Kassapa có 500 đệ tử, hai người em có 300 và 200 đệ tử. Ba anh em ông Kassapa đều là những đạo sĩ có danh vọng lớn ở xứ Magadha, đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa, ông này thờ thần lửa, và tự cho mình đã chứng quả A la hán. Ðức Phật lại gặp ông đầu tiên và xin được phép ngủ qua đêm tại phòng riêng của ông này, ở đây có thờ một con rắn thiên rất độc. Ông Kassapa tưởng rằng Ðức Phật thế nào cũng bị con rắn thiêng cắn chết, nào ngờ chính con rắn bị Ðức Phật hàng phục bằng sức thần thông của Ngài. Cả ba anh em với số học trò đông đảo đều xin xuất gia theo Ðức Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau đó, cả đoàn người cùng đi với Ðức Phật đến một nơi gọi là Gaya Sisa, không cách xa Uruvela mấy. Ở đây, Phật giảng kinh Adittapariyaya Sutta. Nghe xong kinh này, tất cả các Tỳ kheo có mặt đều chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;16. Sariputta (Xá Lợi Phất) và Moggalana (Mục Kiền Liên) trở thành hai đệ tử hàng đầu của Ðức Phật&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Gần thành Vương Xá (Rajagaha), tại làng Upatissa, có một thanh niên rất thông minh tên là Sariputla. Gia đình ông thuộc loại giàu có và danh tiếng nhất làng, cho nên o6ng cũng có tên là Upatissa. Tuy sống trong cảng giàu sang quyền quí, nhưng ông sớm cảm thấy tính trống rỗng, vô vị của cuộc sống thế tục. Ông cùng với người bạn thân là Moggalana, ở Kokita thường xuyên khi khắp nơi, tìm thầy học đạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðấy cũng là thời điểm, Ðức Phật phái các đệ tử đi truyền giáo. Sariputta được gặp A la hán Assaji đang đi khất thực trong thàng Vương Xá và xúc động mạnh mẽ trước dung mạo trang nghiêm và khí sắc giải thoát của vị A la hán trẻ tuổi này. Sariputta đến gần và hỏi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thưa Ngài tôn kính! Các căn của Ngài thật an tịnh, màu da của Ngài thật trong sáng. Ðược sự chỉ đạo của bậc đạo sư nào mà Ngài xuất gia? Bậc đạo sư của Ngài là ai? Ngài theo giáo lý nào?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;A la hán Assaji trả lời với thái độ khiêm tốn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Tôi còn rất trẻ trong Tăng đoàn, thưa Ngài, và tôi không có khả năng thuyết pháp được nhiều cho Ngài".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng vì Tôn giả Xá Lợi Phất khẩn khoản yêu cầu, cho nên A la hán Assaji đọc câu kệ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Sự vật bắt nguồn từ nhân duyên&lt;br /&gt;Ðức Như Lai nói rõ nhân duyên đó&lt;br /&gt;Và bậc đạo sư cũng nói rõ&lt;br /&gt;Sự vật đó tiêu diệt như thế nào".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngài Sariputta rất thông minh, chỉ mới nghe 2 câu kệ đầu đã chứng ngay Sơ quả. Sau đó, Ngài về baó tin cho người bạn thân Moggalana, và cả hai người cùng đến yết kiến Ðức Phật ở tu viện Veluvana. Ðức Phật thâu nhận hai ông vào Tăng chúng với câu nói đơn giản: "Etha Bhikkhave!" (Hãy đến đây! Các Tỳ kheo).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mười lăm ngày sau đó, Sariputta chứng quả A la hán, khi nghe Ðức Phật giảng kinh Vedana Pariggha cho du sĩ ngoại đạo Dighanakha, còn Mục Kiền Liên thì chứng quả A la hán trước đó một tuần. Ngay chiều hôm Ngài Sariputta chứng quả A la hán, Ðức Phật triệu tập Tăng chúng lại và tuyên bố hai Ngài là hai vị thượng thủ của Tăng đoàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;17. Ðức Phật về thăm gia đình&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thân phụ Ðức Phật, vua Suddhodana bây giờ đã già yếu, nghe tin Ðức Phật thành đạo và đang thuyết pháp ở thành Rajagaha (Vương Xá), vua rất nóng lòng được gặp lại con. Vua liền phái sứ giả đến Rajagaha (Vương xá), thỉnh cầu Ðức Phật trở về thăm cố đô và gia đình. Nhưng các sứ giả của Vua, đến Vương xá, đuợc nghe Phật thuyết pháp, đều xin xuất gia làm Tỳ kheo và chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vị sứ giả thứ mười là Kaludayi, vốn là người bạn thân cũ của Ðức Phật, lúc Ngài cón là Thái tử. Ông này đến Vương xá, nghe Phật nói pháp, cũng xin xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán như chín vị sứ giả trước, Kaludayi không quên chuyển tới Ðức Phật lời phụ vương mời Ðức Phật về thăm gia đình. Ðức Phật nhận lời, lên đường cùng với đông đảo đệ tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;18. Ðức Phật và Phụ vương Suddhodana&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật và các đệ tử của Ngài được vua Suddhodana, quần thần và dân chúng đón tiếp rất long trọng. Ðược nghe Ðức Phật thuyết pháp, vua chứng ngay Sơ quả (Tư đà hoàn). Khi nghe bài thuyết pháp thứ hai, nhà vua chứng quả Thánh thứ hai, Sakkadagami (Tư đà hàm), còn bà dì Pajapati Gotami thì chứng Sơ quả (Sotapana - Tu đà hoàn). Lần thứ ba, Ðức Phật giảng kinh Dhammapala Jàtaka cho vua cha, và vua cha chứng quả Thánh thứ ba (Anagami - A na hàm). Sách kể rằng, sau nầy, trên giừơng bệnh, vua cha lại được Ðức Phật về thăm và giảng pháp. Lần nghe pháp cuối cùng này, vua chứng quả A la hán. Và sau bảy ngày tận hưởng lạc thú giải thoát, vua qua đời vào năm Ðức Phật tròn 40 tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;19. Ðức Phật và Công chúa Yasodhara (Da Du Ðà La)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Công chúa Yasodhara (Da Du Ðà La) vốn là con gái vua Suppahuddha (Thiện Giác), đứng đầu dòng họ Koliya. Sau khi Thái tử rời bỏ hoàng cung, xuất gia cầu đạo, công chúa cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc áo vàng của người nữ tu sĩ, và tận tình nuôi người con trai là La Hầu La đến tuổi khôn lớn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày thứ hai Ðức Phật đến thành Kapilavastu, Ðức Phật cùng với đông đảo đệ tử đến dùng bữa ăn trưa tại hoàng cung, theo lời mời của vua cha. Sau bữa tiệc, Ðức Phật cùng với vua cha và hai người đệ tử thân cận, Sariputta và Moggalana đến phòng công chúa. Sau khi Ðức Phật vào phòng và ngồi vào chỗ xếp sẵn, công chúa đảnh lễ Phật với thái độ vô cùng cung kính. Ðức Phật giảng truyện bổn sanh Candakinnara và nói: "Thưa phụ vương, không phải chỉ trong kiếp này, mà trong một kiếp sống trước, công chúa cũng đã từng bảo vệ tôi và thủy chung với tôi". Sau khi nhắc lại chuyện kiếp trước, Ðức Phật an ủi công chúa và từ giã hoàng cung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi vua Suddhodana qua đời, bà dì là Pajapati xuất gia làm Tỳ kheo ni. Công chúa cũng xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán. Trong số các Tỳ kheo ni, công chúa là người giỏi phép thần thông nhất. Năm 78 tuổi, công chúa nhập Niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;20. Ðức Phật và Rahula (La Hầu La)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Rahula (Hán dịch âm: La Hầu La) là người con trai độc nhất của Ðức Phật, khi Ðức Phật còn là thái tử. Lần đầu tiên Ðức Phật trở về thăm cố đô và gia đình, sau ngày thành đạo, Rahula lên 7 tuổi, được bà dì là Maha Pajapati Gotami trực tiếp nuôi dưỡng, săn sóc. Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Rahula vẫn được chấp nhận vào Tăng đoàn, và được Ðức Phật giao cho Ngài Sariputta trực tiếp dạy dỗ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trong những bài kinh nổi tiếng Ðức Phật đích thân giảng cho Rahula sau khi Rahula xuất gia, là kinh Ambalatthika Rahulovada sutta, trong đó Ðức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của tánh trung thực, của sự phản tỉnh để trừ diệt mọi ý niệm, lời nói và hành vi bất thiện, bất chánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ luỵện tập phép tu thiền niệm hơi thở, theo lời chỉ dẫn của Ðức Phật, và sau khi nghe giảng kinh Cula Rahulovada, Ngài Rahula chứng quả A la hán. Ngài qua đời trước Ðức Phật và Ngài Sariputta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Trưởng Lão Tăng Kệ", có hai bài kệ như sau, của Rahula, sau khi Ngài chứng quả A la hán:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Nhờ ta được đầy đủ&lt;br /&gt;Hai đức tánh tốt đẹp&lt;br /&gt;Ðược bạn có trí gọi:&lt;br /&gt;'Rahula may mắn'&lt;br /&gt;Ta lại được pháp nhãn,&lt;br /&gt;Các lậu hoặc đoạn tận,&lt;br /&gt;Không còn có tái sanh&lt;br /&gt;Ba minh ta đạt được&lt;br /&gt;Thấy được giới 'bất tử'"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;21. Ðức Phật và bà dì mẫu Pajapati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Ðề)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Bà dì Gotami là em hoàng hậu Maya, và là vợ thứ của vua Suddhodana. Sau khi hoàng hậu Maya qua đời, bà lãnh trách nhiệm săn sóc, nuôi nấng Thái tử Siđacta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lần đầu tiên Ðức Phật về thăm thành Kapilavastu, sau ngày Ngài thành đạo, bà dì có trực tiếp xin Ðức Phật cho xuất gia làm Tỳ kheo ni, nhưng Phật không chấp nhận, mà cũng không nói rõ lý do. Bà Gotami ba lần xin, Ðức Phật đều từ chối. Sau khi rời Kapilavastu, Ðức Phật cùng với số đệ tử đông đảo đến thành phố Vesali, ngụ tại tịnh xá Kutagara.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Gotami cùng với nhiều bà khác thuộc giòng họ Sakya, đầu cạo tóc, thân đắp y vàng, kéo nhau đến Vesali và đứng chờ ngoài cửa tịnh xá, nơi Ðức Phật an nghỉ. Từ Kapilavastu đến Vesali, con đường dài 150 dặm. Bà Gotami và các bà giòng họ Sakya, chân sưng phồng, quần áo đầy bụi, vẻ mặt buồn bã nhưng kiên quyết, yêu cầu Ngài Ananda cho được gặp Ðức Phật. Ngài Ananda động lòng thương xót, vào xin Ðức Phật cho phép các bà được xuất gia làm Tỳ kheo ni. Ngài Ananda hai ba lần nài xin, Ðức Phật đều không chấp nhận. Ngài bèn thưa với Phật rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Nếu phụ nữ được xuất gia và tu học theo pháp và luật của đức Thế Tôn thì họ có thể chứng quả Thánh thứ nhất, quả Thánh thứ hai, quả Thánh thứ ba và cuối cùng có chứng được quả A la hán không?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật trả lời là họ có khả năng chứng các quả Thánh nói trên. Ngài Ananda bạch tiếp: "Nếu họ có thể chứng được các quả Thánh thì cớ sao bà dì Gotami lại không được xuất gia theo Pháp và Luật của Ðức Thế Tôn, vì bà dì đã trực tiếp nuôi nấng săn sóc Thế Tôn, từ ngày Ðức Thế Tôn còn tấm bé".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói: "Nếu bà Gotami chấp nhận thực hành tám điều quy định nghiêm khắc sau đây, thì Ta cho phép Bà và các phụ nữ xuất gia, tu học dưới pháp và luật của Ta". Rồi Ðức Phật nói ra tám điều qui định nghiêm khắc mọi quan hệ giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (xem luật Tỳ kheo ni). Ông Ananda đem 8 điều luật Phật nói thưa lại với bà dì Gotami và các bà khác. Các bà đều hoan hỷ nhận lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho phép bà dì Gotami xuất gia và thành lập đoàn Tỳ kheo ni, Ðức Phật đã thấy trước hậu quả của quyết định của mình. Ngài nói với đại đức Ananda rằng: "Này Ananda, nếu phụ nữ không được phép xuất gia và sống trong Pháp và Luật của Ta, thì cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử của Ta có thể giữ vững dài lâu, Chánh pháp cao cả của Ta có thể duy trì một ngàn năm, nhưng vì phụ nữ được phép xuất gia, cuộc sống Thánh của các đệ tử Ta sẽ không duy trì dài lâu, và từ nay Chánh pháp cao cả của Ta chỉ còn tồn tại 500 năm nữa mà thôi".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Cũng như, này Ananda, có những ngôi nhà có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, những ngôi nhà đó rất dễ bị mất trộm. Nếu để phụ nữ xuất gia, sống trong Pháp và Luật của Như Lai, cuộc sống Thánh của các đệ tử sẽ khó mà duy trì dài lâu. Cũng như một người đắp một con đê để ngăn một bể nước lớn, không để cho nước tràn qua. Ta cũng vậy, Ta chế định ra 8 giới điều nghiêm khắc trên là để ngăn ngừa không để cho Tỳ kheo ni vi phạm".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những lời Phật dạy, tuy có thể không được thuận tai đối với phụ nữ, nhưng cũng phải nhận rằng, Ðức Phật đã sớm thấy rõ, đối với phụ nữ nói chung, bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, cuộc sống xuất gia không phải dễ dàng. Quan hệ giữa nam và nữ tu sĩ trong Tăng đoàn cũng dễ xãy ra nhiều chuyện rắc rối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù vậy, Ðức Phật là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cho thành lập một Ni đoàn với đầy đủ giới luật và uy nghi. Bà la môn giáo, và các tôn giáo khác đương thời ở Ấn Ðộ đều không có đoàn thể phụ nữ tu hành như vậy. Hơn nữa, trong thời Ðức Phật còn tại thế và sau nầy, nhiều Tỳ kheo ni đã chứng quả A la hán và trở thành nổi danh trong hành tu sĩ, như chúng ta có thể đọc thấy trong cuốn "Trưởng lão ni kệ" thuộc Tiểu Bộ Kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;22. Ðức Phật và Tôn giả Ananda&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ananda là anh em cô cậu với Ðức Phật và là con của Amitodana, em vua Suddhodana, thân phụ của Ðức Phật. Vì ngày ông sinh ra đem lại niềm hoan hỷ cho mọi người trong gia tộc, cho nên Tôn giả được đặt tên Ananda (Khánh Hỷ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôn giả Ananda xuất gia theo Phật, cùng với các thanh niên khác dòng họ Sakya, là Anuruddha, Bhadya, Bhaga, Kimbila, và Devadatta. Năm Ðức Phật 55 tuổi, tôn giả Ananda được cử làm thị giả của Ðức Phật. Trong suốt 25 năm trời, từ ngày ấy cho đến lúc Ðức Phật nhập Niết bàn, Tôn giả Ananda luôn luôn ở bên cạnh Ðức Phật, hầu hạ săn sóc Ðức Phật, trong mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Ông Ananda có một trí nhớ lạ lùng, ông ghi nhớ không bỏ sót tất cả các bài thuyết pháp của Ðức Phật cũng như của một số đệ tử lớn của Ðức Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi một Bà La Môn hỏi Tôn giả nhớ được bao nhiêu bài kinh, Tôn giả trả lời là có 82.000 bài của Ðức Phật thuyết và 2.000 bài của các Tỳ kheo, đệ tử của Ðức Phật thuyết. Ðúng là có tổng số 84.000 bài kinh tất cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật tán thán năm đức hạnh của Tôn giả Ananda là: học uyên bác, trí nhớ tốt, kiên định, săn sóc chu đáo, ứng xử tốt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mãi sau khi Ðức Phật nhập Niết Bàn. Tôn giả Ananda mới chứng quả A la hán. Ðấy là do khi Ðức Phật còn tại thế, tôn giả bận làm công việc thị giả, cũng như bận ghi nhớ các bài giảng của Ðức Phật, như một đệ tử bác học đa văn. Tôn giả Ananda nhập Niết bàn, năm ông 120 tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;23. Ðức Phật và Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Devadatta là con vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamita, Pamita là một bà cô của Ðức Phật, Devadatta xuất gia theo Phật, cùng một lượt với ông Ananda và các thanh niên quý tộc khác, thuộc giòng họ Sakya. Devadatta không chứng được quả nào, nhưng lại giỏi một số pháp thần thông, và được vua Ajattasattu (A Xa Thế) xứ Magadha ủng hộ. Mặc dù lối sống hư hỏng, và tà kiến, tà hạnh, Devadatta vẫn được một số khá đông người tán thành và phục tùng. Khi Ðức Phật về già, Devadatta yêu cầu Phật trao cho mình quyền lãnh đạo Tăng già, nhưng Ðức Phật kiên quyết không chấp nhận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Devadatta hết sức tức giận, và cùng với vua Ajattasattu âm mưu hại Phật. Nhưng các xạ thủ được Ajattasattu thuê giết Phật, đều bị Ðức Phật thuyết giáo và trở thành đệ tử của Phật. Devadatta thấy tự mình phải hạ thủ sát hại Phật mới được. Một lần Ðức Phật đang đi dọc bờ núi Gijjhakuta (Linh Thứu), thì Devadatta từ trên đỉnh núi đẩy xuống một tảng đá lớn. May mà tảng đá nầy lăn đụng phải một tảng đá khác và bị vỡ. Ðức Phật chỉ xây xát và chảy máu ở chân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần khác, Devadatta cho một con voi điên uống rượu, rồi xua voi húc Phật. Con voi chạy đến gần Phật thì bỗng nhiên đứng lại, bị thuần phục và được Phật xoa đầu. Sau lần âm mưu thất bại này, vua Ajatasattu sợ quá, không dám tiếp tục che chở cho Devadatta nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Devadatta bèn nuôi một âm mưu khác, xảo quyệt hơn: với một số Tỳ kheo xấu như Kokàlika, Devadatta muốn phá hoà hợp tăng, chia rẽ nội bộ Tăng già, Devaddata kiến nghị Ðức Phật ban hành 5 điều luật mới như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tăng sĩ phải sống suốt đời ở trong rừng.&lt;br /&gt;Chỉ được khất thực để ăn.&lt;br /&gt;Chỉ được mặc áo làm bằng giẻ rách lượm ở nghĩa địa.&lt;br /&gt;Chỉ được sống dưới gốc cây.&lt;br /&gt;Suốt đời không được ăn cá thịt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật chỉ trả lời là các đệ tử có thể tùy ý sống theo hay không theo 5 giới điều ấy, nhưng Ngài không ép buộc họ. Devadatta lợi dụng sự từ chối của Ðức Phật, lôi kéo được một số tăng sĩ trẻ, thiếu học thức và không có căn bản vững vàng, đi theo mình đến Gayasisa. Nhưng hai đệ tử lớn của Phật là Sariputta và Moggalana, theo chỉ thị của Ðức Phật cũng đến Gayasisa, thuyết pháp cho họ nghe, và dẫn họ về trở lại với chánh pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, tai nạn liên tiếp đến với Devadatta. Mắc bệnh nan y, trước khi chết, Devadatta ăn năn hối lỗi và tỏ ý muốn được gặp Ðức Phật. Nhưng vì nghiệp ác quá nặng cho nên Devadatta chết mà không gặp Phật, và phải đọa địa ngục, chịu khổ trong nhiều kiếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc Devadatta, Ðức Phật răn các Tỳ kheo rằng, vì Devadatta bị chinh phục bởi các ác pháp, cho nên phải đọa địa ngục, tức là bị chinh phục bởi lợi dưỡng, danh vọng, cung kính, dục vọng xấu, tà kiến. (Xem Tăng Chi III, 20)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;24. Ðức Phật và Trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Nhà triệu phú, trưởng giả Anathapindika là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ Ðức Phật và tăng chúng, thời Ðức Phật còn tại thế. Ông vốn tên là Sudatta, nhưng vì ông hay bố thí cho kẻ nghèo và người mồ côi, mồ cút cho nên người ta tôn gọi ông là Trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anathapindika). Ông sinh ra ở Savatthi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần đến thành Rajagaha (Vương Xá) có công việc, ông được biết là Ðức Phật đang ngụ ở rừng Sitavana, ngoài thành Rajagaha. Ông vui mừng khôn xiết và sáng sớm hôm sau, trải qua một đêm dài mất ngủ vì quá sung sướng bồn chồn, ông lên đường đi đến rừng Sitavana. Tại đây, Ðức Phật đang đi kinh hành ngoài trời và biết trước ông đến, gọi ông bằng tên riêng Sudatta và thân mật bảo ông lại gần Ngài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông vấn an Phật, hỏi thăm Ðức Phật có an lạc không, Ðức Phật trả lời:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Tất nhiên, bao giờ cũng sống an lạc&lt;br /&gt;Bậc A la hán trong lòng mọi ngọn lửa đã dập tắt.&lt;br /&gt;Không còn đeo đuổi theo dục lạc vật chất nữa.&lt;br /&gt;Cõi lòng mát lạnh, mọi sanh y đoạn tận.&lt;br /&gt;Mọi trở ngại đều loại trừ, đã khéo chế ngự,&lt;br /&gt;Mọi đau khổ trong tâm&lt;br /&gt;Bậc A la hán sống an lạc, hạnh phúc&lt;br /&gt;Vì trong lòng được an tịnh". (Tương Ưng I, 273)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a) Tinh xá Jatavana&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe lời Phật giảng, ông Anathapindika chứng được Sơ quả (Sotapanna), và ông thỉnh cầu Ðức Phật sống qua mùa mưa ở Savatthi. Ðức Phật nhận lời. Ông Anathapindika, trở về Savatthi, mua một khu vườn của Thái tử Jeta (Kỳ Ðà), và xây ở đây tu viện Jetavana nổi tiếng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách kể rằng, ông mua khu vườn bằng số tiền đồng vàng lát đầy diện tích vườn, theo sự đòi hỏi của Thái tử Jeta. Nhưng Thái tử không chịu bán cây ở trong vườn, và tự mình đem tất cả những cây đó cúng dường Ðức Phật. Từ đó, công viên có tên gọi trong các kinh Phật (Hán dịch) là "Cấp cô độc viên Kỳ đà thụ". Ðức Phật đã giảng nhiều kinh, và trải qua 19 mùa mưa ở Tịnh Xá nầy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các bài nói chuyện của Ðức Phật với ông Anathapindika đều có ý nghĩa lớn đối với người Phật tử tại gia. Trong một bài thuyết pháp về hạnh bố thí, Ðức Phật nói là "sự cúng dường cho Phật và chư Tăng là công đức rất lớn, nhưng có công đức hơn nữa là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, có công đức hơn 3 quy y là tự mình giữ 5 giới, có công đức hơn giữ 5 giới là quán về lòng từ trong giây phút; nhưng có công đức hơn cả là phát triển tầm nhìn trí tuệ thấy được sự vật như thật và hiểu được tánh vô thường của sự vật" (Tăng Chi IV, 264 - 265)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua đoạn kinh trên, có thể thấy điều Ðức Phật coi trọng hơn cả đối với người xuất gia hay tại gia là phát triển trí tuệ, để nhìn thấy sự vật như thật, đúng bản chất của chúng là vô thường, vô ngã. Tuy bố thí, cúng dường cũng là điều quan trọng, đối với người tại gia, nhưng tự mình tu tập, thực hành nếp sống đạo đức theo 5 giới, nuôi dưỡng lòng từ lại càng quan trọng hơn, nhưng quan trọng hơn cả là phát triển trí tuệ, để nhìn được sự vật như thật, nhờ đó mà không còn bị tham đắm, nội tâm được giải thoát, tự tại, trí tuệ được trong sáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b) Bốn niềm vui của Phật tử tại gia&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói tới bốn niềm vui chính đáng của người Phật tử tại gia, niềm vui có của cải, niềm vui được giàu có, niềm vui không có nợ nần, và niềm vui không có gì bị chê trách.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thế nào là niềm vui có của cải? Ở đây, gia chủ có của cải nhờ phấn đấu tích cực, góp gom được bằng sức của bàn tay, bằng mồ hôi, đúng pháp, và tích lũy được một cách đúng pháp, và có ý nghĩ: 'Của cải này là của tôi, có được nhờ phấn đấu tích cực tích lũy đúng pháp', cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta. Ðó là niềm vui có của cải".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thế nào là niềm vui được giàu có? Ở đây, vị gia chủ được giàu có nhờ phấn đấu tích cực, vui vẻ nhờ giàu có và làm nhiều việc lành. Vì có ý nghĩ 'Nhờ giàu có mà có thể hưởng thụ sự giàu có và làm các việc lành', cho nên niềm vui và sự thỏa mãn đến với ông ta. Ðó là niềm vui được giàu có".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thế nào là niềm vui không có nợ nần? Ở đây, vị gia chủ không có nợ nần, lớn hay nhỏ đối với bất cứ một ai. Vì có ý nghĩ 'Tôi không có nợ nần, dù lớn hay nhỏ đối với bất cứ một ai', cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta. Ðó là niềm vui không có nợ nần".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thế nào là niềm vui không bị chê trách? Ở đây, Vị Thánh đệ tử có niềm vui vì các hành động của thân, miệng và ý đều không có gì là đáng chê trách. Với ý nghĩ 'Tôi không có gì đáng chê trách ở thân, miệng và ý', niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta". (Tăng Chi III, 77 - 78)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp đó, Ðức Phật nói trong ba niềm vui trên đây của người tại gia, niềm vui không có gì đáng bị chê trách nơi hành động, lời nói và ý nghĩ là ưu việt hơn cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c) Bảy loại người vợ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần, Ðức Phật đến thăm nhà ông Anathapindika, nghe có tiếng ồn ào thất thường trong nhà, bèn hỏi nguyên nhân, ông Anathapindika thưa:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Bạch Thế Tôn, đó là Suyata, con dâu tôi đang ở với chúng tôi. Nó giàu có và đến đây từ một gia đình giàu có, nó không săn sóc gì tới mẹ chồng, bố chồng và cả chồng nó nữa. Nó cũng không kính trọng, tôn quý và đảnh lễ Ðức Thế Tôn". Ðức Phật cho gọi Suyata lại và giảng cho nghe về bảy loại người vợ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Người vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Ðó là loại vợ sát nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Người vợ hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn kiếm được, nhờ cày ruộng, buôn bán hay lao động khéo tay, đó là loại vợ ăn trộm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Người vợ lười biếng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, ác độc, thô bạo, thích nói lời ác, lấn át người chồng siêng năn cần mẫn. Ðó là loại vợ kiêu xa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Người vợ trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ con, giữ gìn tài sản của chồng, đó là loại vợ như mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Người vợ kính trọng chồng, như em gái đối với anh cả, khiêm tốn, sống chiều đúng theo ý chồng. Ðó là loại vợ như em út.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6. Người vợ sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao năm xa cách, thuộc giòng quý tộc, có đạo đức, sống thanh tịnh. Ðó là loại vợ như bạn bè.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7. Người vợ dù là bị đối đãi không tốt, nhưng không giận hờn, vẫn bình tĩnh, chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ mẫn, tâm không biết giận, sống chiều đúng theo ý chồng. Ðó là loại vợ như người phục vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật sau khi mô tả bảy loại người vợ nói trên, nói rằng: loại vợ sát nhân, loại vợ ăn trộm, loại vợ kiêu xa đều là không tốt, còn loại vợ như mẹ, như em út, như bạn bè, như người phục vụ là những người vợ tốt, đáng tán thán, và Ðức Phật hỏi đó là bảy loại vợ mà một người đàn ông có được, và Suyata muốn là loại người vợ nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suyata trả lời: "Xin đức Thế Tôn từ nay trở đi nghĩ về cháu là loại vợ như người phục vụ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;d) Cây bồ đề Ananda&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Anathapindika thường hay đến thăm Ðức Phật hàng ngày và thấy các Phật tử tỏ ra thất vọng mỗi khi đến mà không được gặp Phật vì Phật đi thuyết pháp ở một nơi khác, cho nên hỏi Ðại Ðức Ananda xem có cách gì để cho Phật tử có thể cúng dường Phật, dù Ngài vắng mặt. Ðại Ðức Ananda bạch Phật về chuyện này và hỏi Phật về các vật đáng được cúng dường, đảnh lễ. Ðức Phật trả lời là có ba loại. Loại đồ vật thuộc về thân Ðức Phật, loại đồ vật Ðức Phật thường dùng, và loại đồ vật nhắc nhủ nhớ tới Ðức Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại Ðức Ananda hỏi: "Xây một tháp thờ khi đức Thế Tôn còn sống có thích hợp chăng?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Không, một vật nhắc nhủ nhớ tới Ðức Phật không có cơ sở vật chất, chỉ có ý nghĩa thuần túy tinh thần. Như cây Bồ Ðề, được Ðức Phật sử dụng, là một vật đáng cúng dường, dù khi Ðức Phật còn sống hay là khi Ðức Phật đã diệt độ rồi."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại Ðức Ananda nói: "Khi đức Thế Tôn đi thuyết pháp ở nơi khác, tu viện lớn Jetavana nầy không có nơi để quần chúng quy ngưỡng và cúng dường. Con có thể lấy hạt cây Bồ Ðề lớn ở Bodhi Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) và gieo nó ở cửa Tinh Xá Jetavana được không?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật trả lời: "Rất tốt, hãy trồng cây Bồ Ðề ở đây. Như thế khác nào bao giờ Ta cũng có mặt ở Tinh Xá Jetavana nầy".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại Ðức Ananda nói ý kiến của Ðức Phật với Phật tử tại gia như ông Anathapindika, nữ gia chủ Visakha và vua Pasenadi xứ Kosala. Ðại Ðức Ananda nhờ Tôn giả Moggalana (Mục Kiền Liên) tìm cho một quả Bồ Ðề trên cây Bồ Ðề lớn ở Bodhi Gaya. Ðại Ðức Ananda đem trồng ở cửa Tinh Xá Jetavana. Cây Bồ Ðề ấy hiện nay vẫn còn, và được gọi là cây Bồ Ðề Ananda.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;e) Ông Anathapindika qua đời và sinh lên cõi trời Ðâu Suất&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi ông Anathapindika lâm bệnh nặng, ông mời Tôn giả Sariputta đến giảng kinh tại nhà. Cả Ngài Sariputta và Ngài Ananda cũng đến vấn an ông. Tôn giả Sariputta giảng cho ông nghe một bài kinh sâu sắc. Nghe bài kinh gần xong, hai mắt ông trào đầy lệ vì quá cảm động. Ông Ananda hỏi vì sao, thì ông trả lời là ông chưa từng được nghe một bài thuyết pháp sâu sắc đến thế. Ngài Sariputta trả lời, đây vốn là một bài thuyết pháp chỉ giảng cho những Tăng sĩ có trình độ tu học cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ít lâu, sau khi hai Ngài Sariputta và Ananda ra đi, ông Anathapindika qua đời và sanh lên cõi Trời Tushita (Ðâu Suất).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến tối, thiên chủ Anathapindika, với thân hình sáng chói cả khu vườn Jetavana, đến chào Ðức Phật, tán thán công đức của Tôn giả Xá Lợi Phất, và bày tỏ niềm vui sướng của mình được thấy Ðức Phật và chư Tăng ngụ tại Tu Viện Jetavana. Thiên chủ Anathapindika nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Ý lành và trí tuệ, tâm được tu tập đúng pháp, lối sống tối cao cả, dựa trên đạo đức chân chính. Chính điều ấy làm con người thanh tịnh, chứ không phải danh lợi thế gian".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;25. An cư kiết hạ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Sự nghiệp giáo hóa và thuyết pháp của Ðức Phật kéo dài 45 năm, từ năm Ðức Phật thành đạo lúc 35 tuổi cho đến năm tuổi 80, Ðức Phật nhập Niết bàn. Năm này qua năm khác, Ðức Phật đi nơi này nơi kia, khi thì đi một mình, khi thì có đông đảo đệ tử đi theo, thuyết pháp độ sanh, giáo hóa quần chúng bằng gương sáng cao cả của bản thân, và bằng lời lẽ đầy trí tuệ. Chỉ vào mùa mưa, ở Ấn Ðộ, thông thường giữa tháng 7 và tháng 11, Ðức Phật nghỉ lại trong các tu viện và thuyết pháp tại chỗ, không đi ra ngoài. Tục lệ này gọi là An cư kiết hạ, được Tăng ni Phật tử duy trì liên tục cho đến ngày nay, ở khắp các nước có Phật giáo. Vào mùa an cư kiết hạ, quần chúng là tín đồ hay không tín đồ, hàng ngày kéo đến đông đảo tại tu viện hay công viên, nơi có Ðức Phật và Chư Tăng trú ngụ, để được nghe thuyết pháp, cúng dường Phật và Chư Tăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;26. Ðức Phật và vua Pasenadi xứ Kosala&lt;br /&gt;Như đã nói trên, trong 45 năm giáo hóa và thuyết pháp độ sanh, Ðức Phật hoặc một mình, hoặc cùng với đông đảo học trò đi lại nhiều nơi ở vùng trung châu sông Hằng. Nhưng thời gian dài nhất, Ðức Phật ở tại Savatthi, kinh đô của vương quốc Kosala.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng như Trưởng giả Anathapindika, vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala là một thí chủ lớn của Ðức Phật và Chư Tăng. Ở Savatthi, ngoài Tinh Xá Jetavana của ông Anathapindika cúng dường Ðức Phật, còn có tu viện Rajakarama do vua Pasenadi xây cất, để cúng dường Phật và Chư Tăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng hậu Malika, vợ vua cũng là một tín đồ thuần thành của Ðức Phật và khéo hướng dẫn giúp đỡ vua một cách tốt đẹp trong các vấn đề tôn giáo. Có lần, vua nằm thấy liên tiếp 16 cơn mộng bất thường, các đạo sĩ Ba la môn ở trong triều nói đó là điềm gở và khuyên vua phải tổ chức tế đàn lớn, giết nhiều sinh vật để cúng tế thì mới tai qua nạn khỏi. Vua cũng nghe theo và chuẩn bị tổ chức tế đàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Hoàng hậu Malika biết tin, bà khuyên vua, thay vì tổ chức tế đàn, hãy yết kiến Phật và hỏi Ngài về ý nghĩa của 16 cơn mộng. Và vua được yên tâm, sau khi nghe Phật giải thích đầy đủ về 16 cơn mộng bất thường của vua. Vua bèn thôi không tổ chức tế đàn nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một niềm hạnh phúc lớn của vua Pasenadi là được nghe Ðức Phật thuyết pháp nhiều lần. Tương Ưng Bộ Kinh có một chương đặc biệt, có đầu đề "Tương Ưng Kosala" ghi lại phần lớn các bài thuyết pháp của Ðức Phật cho vua Pasenadi. Sau đây xin trích giới thiệu nội dung vài đoạn trong chương Kosala Tương Ưng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a) Ðánh giá một người là thế nào không phải là chuyện đơn giản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần, vua Pasenadi ngồi bên cạnh Phật, tại lâu đài Migaramatu, thì thấy có một số du sĩ ngoại đạo đi ngang gần đấy. Người thì bện tóc, người thì lõa thể, người thì chỉ mặc một y. Vua hỏi Ðức Phật là trong số các du sĩ đó, ai là người đã chứng quả A la hán, ai là người đang trên đường tiến tới chứng quả A la hán. Ðức Phật trả lời là đối với nhà vua đang sống trong vòng dục lạc, dùng các loại hương chiên đàn từ xứ Kasi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, dùng nhiều vàng bạc, thì thật là khó biết trong số các du sĩ vừa đi qua, ai là A La Hán và ai đang trên con đường tiến tới chứng quả A La Hán. Hơn nữa phải cùng sống lâu với một người, lại phải biết chú ý, xem xét và phải có trí tuệ, thì mới có thể biết được người đó có giới hạnh hay không, phải cùng chung một nghề, mới biết được một người có thanh tịnh hay không, phải qua sự thử thách của một thời gian bất hạnh mới biết được một người có trung kiên hay không, phải qua đàm đạo với một người mới biết được người đó có trí tuệ hay không. Hơn nữa, phải trải qua một thời gian dài có chú ý, xem xét và phải có trí tuệ thì mới có thể đánh giá một con người là thế nào,... Và cuối cùng Ðức Phật khuyên vua xem xét người, không nên chỉ nhìn bộ mặt bề ngoài, có thể là giả dối che đậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b) Ðức Phật khuyên coi trọng phụ nữ, ngang hàng với nam giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần, vua Pasenadi, được tin Hoàng hậu Malika hạ sanh con gái, tỏ vẻ không vui. Ðức Phật, biết tâm trạng đó của vua, bèn đọc bài kệ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này nhân chủ ở đời&lt;br /&gt;Có một số thiếu nữ&lt;br /&gt;Có thể tốt đẹp hơn&lt;br /&gt;So sánh với con trai&lt;br /&gt;Có trí tuệ giới đức&lt;br /&gt;Khiến nhạc mẫu thánh phục&lt;br /&gt;Rồi sanh được con trai&lt;br /&gt;Là anh hùng, quốc chủ&lt;br /&gt;Người con trai như vậy,&lt;br /&gt;Của người mẹ hiền đức&lt;br /&gt;Thật xứng là đạo sư&lt;br /&gt;Giáo giới cho toàn quốc". (Tương Ưng I, 104)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c) Không nên coi thường Tỳ kheo trẻ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lần vua Pasenadi hỏi vì sao, Ðức Phật tuổi còn trẻ và xuất gia chưa bao lâu, mà chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng giác, là quả Thánh cao nhất mà nhiều vị giáo chủ khác, tuy tuổi đời và đạo đều cao hơn Ðức Phật, nhưng thừa nhận rằng mình chưa đạt tới được. Ðức Phật trả lời, có bốn cái trẻ không thể coi thường. Thứ nhất là Sát đế lỵ trẻ (võ tướng trẻ thuộc đẳng cấp Sát đế lỵ), thứ hai là con rắn trẻ, thứ ba là ngọn lửa trẻ (mới nhen nhúm lên), và thứ tư là Tỳ kheo trẻ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý từ Ðức Phật là vị võ tướng trẻ có thể chiếm thiên hạ, rắn trẻ có thể cắn chết người, ngọn lửa trẻ có thể đốt cháy cánh đồng lớn, Tỳ kheo trẻ - nếu tinh tấn tu hành - có thể chứng quả Thánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;d) Chiến thắng nuôi dưỡng hận thù.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Pasenadi, làm vua xứ Kosala hùng mạnh không tránh khỏi chiến tranh với các nước láng giềng, đặc biệt là với chính cháu mình là Ajatasattu, vua xứ Magadha. Có khi vua Pasenadi bại trận, có khi vua Pasenadi chiến thắng, thậm chí có lần bắt sống được vua Ajatasattu. Vì vua Pasenadi là người có tâm địa tốt, sùng kính Phật, cho nên khi bắt sống được vua Ajatasattu, vua chỉ tịch thu toàn bộ binh mã, còn thì tha cho vua Ajatasattu trở về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi các Tỳ kheo thuật lại chuyện này với Ðức Phật. Ngài nói lên hai bài kệ. Bài đầu, khi vua Pasenadi thất trận:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thắng trận sinh thù oán&lt;br /&gt;Bại trận nếm khổ đau&lt;br /&gt;Ai bỏ thắng bỏ bại,&lt;br /&gt;Tịch tịnh hưởng an lạc". (Tương Ưng I, 102)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài kệ thứ hai, Ðức Phật nói lên khi nghe các Tỳ kheo thuật chuyện vua Pasenadi thắng trận và bắt sống được vua Ajatasattu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Vì nghĩ đến tư lợi,&lt;br /&gt;Nên mới cướp hại người&lt;br /&gt;Khi người khác cướp lại,&lt;br /&gt;Bị hại lại hại người&lt;br /&gt;Người ngu nghĩ như vậy,&lt;br /&gt;Khi ác chưa chín muồi&lt;br /&gt;Người ngu chịu khổ đau,&lt;br /&gt;Sát người, bị người sát&lt;br /&gt;Thắng người, bị người thắng&lt;br /&gt;Mắng người, người mắng lại.&lt;br /&gt;Não người, người não lại&lt;br /&gt;Do nghiệp được diễn tiến&lt;br /&gt;Bị hại, lại hại người". (Tương Ưng I, 103)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;27. Ðức Phật và nữ thí chủ Visakha&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Cũng tại Savathi, Ðức Phật còn có thêm một tinh xá thứ ba nữa, do nữ thí chủ Visakha xây. Tinh xá gọi là Pubbarama. Ðức Phật và Tăng chúng đã trải qua sáu mùa kiết hạ tại Tinh xá này của bà Visakha. Bà là con gái nhà triệu phú Dhananjaya, mẹ là Sumanà Devi và ông nội của bà cũng là một nhà triệu phú tên là Mendaka.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ năm bà lên 7 tuổi, bà được may mắn gặp Ðức Phật, khi Ðức Phật đến Bhaddiya, nơi sinh quán của Bà, tại vương quốc Anga. Do có trí thông minh và đạo đức bẩm sinh, sau khi nghe Phật giảng pháp, mặc dù tuổi còn nhỏ, bà cũng chứng Sơ quả (Sotapanna).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà có một người chồng giàu có, Punnavadhana, con trai nhà triệu phú Migàra. Bố chồng vốn là một tín đồ thuần thành của Nigantha Nataputta, vị giáo chủ của đạo Jain. Bà đã khéo léo xin được phép mời Ðức Phật đến nhà chồng thụ trai và sau đó, thuyết pháp cho cả gia đình nghe. Bố chồng cũng nghe nhưng ngồi sau một bức màn. Vào cuối bài thuyết pháp của Ðức Phật, bố chồng giác ngộ, chứng ngay Sơ quả. Cả gia đình chồng trở thành một gia đình Phật tử hạnh phúc và thuần thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà yêu cầu Ðức Phật đồng ý cho bà được làm tám việc đối với Tăng chúng như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tặng áo cà sa cho Tăng chúng vào mùa kiết hạ, từ nay cho đến ngày bà qua đời.&lt;br /&gt;Cúng dường cho tất cả Tỳ kheo đến Savathi.&lt;br /&gt;Cúng dường cho tất cả Tỳ kheo ra khỏi Savathi.&lt;br /&gt;Cúng dường thức ăn cho Tỳ kheo ốm.&lt;br /&gt;Cúng dường thức ăn cho những ai săn sóc người ốm.&lt;br /&gt;Cúng dường thuốc men cho Tý kheo ốm.&lt;br /&gt;Cúng dường cháo cho Tỳ kheo.&lt;br /&gt;Cúng dường áo tắm cho Tỳ kheo ni.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật vui vẻ nhận lời, Ðức Phật nhiều lần thuyết pháp cho bà Visakha. Trong một bài thuyết pháp, Ðức Phật có nói tới tám giới cho Phật tử tại gia nên theo trong những ngày Bố Tát (Uposatha). Hiện nay, tám giới này vẫn được Phật tử theo, trong các ngày Bố Tát ở các nước có đạo Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Visakha là nữ thí chủ lớn nhất của Ðức Phật và Tăng chúng, cũng như ông Anathapindika là nam thí chủ lớn nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;28. Ðức Phật và vua Bimbisara&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Bimbisara (Tần Ba Sa La) là vua xứ Magadha, có kinh đô ở thành Rajagaha (Vương Xá). Vua từng gặp Ðức Phật khi Phật mới xuất gia, và yêu cầu Ðức Phật trở lại thăm vương quốc của vua, sau ngày thành đạo. Giữ đúng lời hứa cũ, Ðức Phật cùng với đông đảo các vị A la hán đệ tử, đi từ Gaya đến thủ đô Rajagaha, và nghỉ tại đền Suppatittha trong một rừng cây cọ dừa. Ðươc tin, vua Bimbirasa cùng với quần thần đông đảo đến chào Ðức Phật và Tăng chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì trong số đệ tử đi theo hầu Ðức Phật, có Tôn giả Kassapa vốn có uy tín lớn trong quần chúng ở đây, cho nên nhiều người phân vân không rõ ai là bậc Ðạo Sư, Ðức Phật hay là Tôn giả Kassapa. Ðức Phật biết rõ mối phân vân đó của quần chúng, bèn hỏi ông Kassapa vì nguyên nhân gì ông bỏ tập tục tế thần lửa. Ông Kassapa thưa rằng, ông bỏ tập tục tế thần lửa, vì ông nhận thấy cảnh giới Niết bàn an tịnh, cao quý hơn nhiều so với dục lạc thế gian. Nói xong ông đảnh lễ Phật và nói: "Ðức Thế Tôn là bậc Ðạo Sư, con là đệ tử của Ngài".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật bèn giảng kinh bổn sanh của ông Kassapa cho mọi người nghe, kể rằng trong một kiếp trước, Ðức Phật cũng đã từng độ cho ông Kassapa ở xứ Narada. Ðược nghe Phật thuyết pháp, vua Bimbisara chứng ngay Sơ quả. Hôm sau, vua thết trai tăng ở hoàng cung, mời Phật và Tăng chúng tham dự. Sau đó, vua tặng Ðức Phật và Tăng chúng công viên Trúc Lâm, trong đó có đền Con Sóc và Tinh Xá Veluvanaràma, nơi đây Ðức Phật trải qua 6 mùa an cư kiết hạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Khema, vợ thứ của vua, sau này xuất gi và cùng với bà Gotami, lãnh đạo Ni chúng. Còn Hoàng hậu chánh thất của vua là bà Kosala Devi, con gái vua Pasenadi xứ Kosala. Con bà Kosala Devi là Ajatasattu (A Xà Thế), sau này cướp ngôi và giết vua cha, đó là do nghiệp quá khứ của vua Bimbisara quá nặng nề. Nhưng vì vua đã chứng Sơ quả, cho nên cái chết của vua cũng nhẹ nhàng, đỡ phần bi thảm và sau khi qua đời, vua lập tức sanh lên cõi trời Lummaharajika với cái tên thiên chủ Janavasabba.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ajatasattu sau khi cùng với Devadatta âm mưu giết hại Phật không thành, biết ăn năn hối lỗi, xin Phật cho quy y và trở thành một Phật tử tại gia hàng đầu của Ðức Phật. Do nghiệp quá khứ nặng nề, cho nên đến lượt ông, ông cũng bị con ông giết và cướp ngôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;29. Ðức Phật và tướng cướp Angulimala&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Một sự kiện đáng ghi nhớ, đánh dấu năm thứ 20 ngày thành đạo là Ðức Phật giác ngộ cho Angulimala, tên tướng cướp khét tiếng hung ác của xứ Kosala. Tên thật của Angulimala là Ahimsaka (Kẻ vô tội). Cha ông vốn là một quan chức trong triều vua xứ Kosala. Thời niên thiếu, ông theo học ở Taxila, là trung tâm học vấn nổi tiếng đương thời ở Bắc Ấn Ðộ. Ông học rất giỏi và được thầy yêu thương nhất trong số các học sinh. Ðiều không may là các bạn đồng học ghen tỵ ông, vu cáo ông với thầy giáo và ông thầy giáo cả tin đâm ra căm thù ông, và muốn giết ông bằng cách bắt ông trả học phí bằng 1000 ngón tay phải của con người. Angulimala phải vâng lời thầy, mặc dù rất khổ tâm. Ông bèn rút lui vào rừng Jalini ở Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số ngón tay cần thiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ban đầu, ông treo các ngón tay người trên cây, nhưng vì các ngón tay bị quạ mổ ăn, cho nên ông xâu ngón tay người lại thành vòng để đeo nơi cổ; do đó ông có tên Angulimala (vòng ngón tay). Sách kể rằng, khi ông đã thu thập được 999 ngón tay, thời Ðức Phật xuất hiện. Angulimala rất mừng vì sắp có đủ số ngón tay cần thiết để nộp cho ông thầy giáo ác độc, Angulimala rút gươm, chạy đuổi theo Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì Ðức Phật dùng phép thần thông, nên Angulimala càng đuổi nhanh, càng không bắt kịp được Phật, mặc dù Phật vẫn đi khoan thai từ từ. Cuối cùng, thở hỗn hển và ướt đẫm mồ hôi, Angulimala đứng lại và gọi: "Này Tu sĩ, hãy dừng chân". Ðức Phật nói bằng giọng từ tốn: "Mặc dù ta đang đi, nhưng ta đã dừng chân. Còn nhà ngươi đã dừng chân hay chưa?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Angulimala không hiểu ý tứ câu nói của Ðức Phật như thế nào? Bởi vì Ðức Phật đang đi, lại nói là đã dừng chân. Còn Angulimala đã dừng chân rồi, thì Phật lại bảo "Hãy dừng chân!" Angulimala hỏi Phật và được Phật giải thích như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Ðúng là ta đã dừng mãi mãi, này Angulimala,&lt;br /&gt;Không bao giờ dùng bạo lực với chúng sanh.&lt;br /&gt;Còn nhà ngươi, hãy dừng tay chớ có giết hại đồng loại&lt;br /&gt;Vì vậy mà Ta nói rằng, Ta đã dừng,&lt;br /&gt;Và bảo ngươi cũng hãy dừng tay!"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiệp thiện ngày xưa của Angulimala tác động vào tư tưởng của ông, và ông biết rằng, ông đang đứng trước mặt Ðức Phật Thích Ca, Ngài đã vì lòng thương xót ông mà đến cứu ông ra khỏi vòng tội lõi. Ông vứt gươm xuống đất, xin Ðức Phật cho ông được xuất gia làm Tăng. Ðức Phật chỉ nói một câu đơn giản: "Ehi Bikkhu" (Hãy đến ! Tỳ kheo).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế nhưng, mặc dù xuất gia, tinh thần của Tỳ kheo Angulimala vẫn không được yên ổn. Thường xuyên, ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu khóc của những người ông đã sát hại. Một hôm, đi khất thực, ông bị quần chúng đuổi đánh, ném đá, ông trở về tu viện, lỗ đầu, chảy máu. Ðức Phật giải thích cho Angulimala biết, đó là Angulimala trả nợ nghiệp ác cũ của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ngày, Angulimala đi khất thực, gặp một người đàn bà trở dạ, khó sanh và đang vô cùng đau đớn. Không biết làm sao được, Angulimala trở về hỏi Ðức Phật. Ðức Phật bày cho Angulimala đem lời sau đây nói với người đàn bà:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này bà chị, từ khi tôi sanh trở lại trong hàng Thánh chúng, tôi không có giết hại bất cứ một loại hữu tinh nào. Cầu mong lời nói thật này giúp cho bà chị được khỏi đau đớn, con của bà chị được sanh nở an toàn".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Angulimala học thuộc lời Ðức Phật, và đến nói với người đàn bà đau đớn, khó sanh. Lập tức, người đàn bà hết đau, và hạ sanh đứa con dễ dàng. Lời nầy của Ðức Phật được gọi là Angulimala Paritta. Ngày nay, ở các xứ Phật giáo Nam phương, người ta vẫn có tập tục đọc lời Angulimala Paritta để làm dịu cơn đau đẻ của phụ nữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này, Angulimala chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;30. Ðức Phật và kỹ nữ Ambapali&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ambapali là người kỹ nữ nổi danh tài sắc của thành phố Vesali. Trên đường đi Kusinara, để nhập Niết bàn, Ðức Phật dừng lại Vesali, và nghỉ ở vườn xoài của Ambapali. Ðược tin, Ambapali đến chào Ðức Phật, và trân trọng mời Ðức Phật và chúng Tăng đến dùng tiệc trai ngày mai tại nhà bà. Ðức Phật nhận lời, và từ chối lời mời của hàng quý tộc Liechavi. Họ hứa trả bà Ambapali một số tiền rất lớn, để bà nhường lại cho quý tộc Liechavi đặc ân được thiết cơm Phật và chúng Tăng nhưng bà từ chối và hôm sau, y lời hẹn, Ðức Phật và chúng Tăng đến với nhà bà Ambapali dùng tiệc trai. Sau bữa tiệc, Ambapali kính tặng Ðức Phật và chúng Tăng vườn xoài to lớn của bà để làm Tinh xá. Sau này, Ambapali cũng xuất gia và chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai sự kiện Angulimala và Ambapali cho thấy, cửa Ðạo Từ Bi mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu sang, nghèo hèn và đẳng cấp xã hội. Một tướng cướp như Angulimala, một dâm nữ như Ambapali, nếu thành tâm hối lỗi, cũng có thể xuất gia, tinh tấn tu học và chứng Thánh quả cao nhất. Một lòng tin thuần thành, và một nỗ lực lớn nhất: đó là điều kiện cơ bản để đi vào đạo Thánh và trở thành bậc Thánh trên thế giới này. Ðạo Phật không đòi hỏi một điều kiện nào khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;31. Ðức Phật tuyên bố sẽ nhập Niết Bàn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật năm nay tròn 80 tuổi. Ngài nhận định sự nghiệp thuyết pháp, giáo hóa độ sanh của Ngài đã hoàn thành. Thời điểm đã đến để Ngài nhập Niết bàn. Trên đường đi Kusinara, khi Ðức Phật dừng chân tại Vaisali, ở Tinh Xá Capala, Ngài đã tuyên bố với tôn giả Ananda là ba tháng nữa, Ngài sẽ nhập Niết bàn. Ngài không chấp nhận lời yêu cầu của Ananda, xin Ngài sống thêm một kiếp nữa, vì hạnh phúc, vì an lạc của chúng sanh. Ðức Phật giảng cho ông Ananda về tính vô thường của mọi sự vật trên thế gian này, và bảo ông Ananda tập hợp chúng Tỳ kheo ở Vaisali lại ở Tinh Xá Mahavana, để nghe Phật thuyết pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Ðức Phật nói với chúng Tỳ kheo những lời lẽ như sau: "Này các Tỳ kheo! Mọi pháp đều vô thường. Hãy siêng năng phấn đấu. Như Lai sắp nhập Niết bàn. Từ nay trong vòng 3 tháng nữa, Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Tuổi Ta đã già, cuộc sống con người ngắn ngủi. Ta sẽ vĩnh biệt các người. Hãy tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác và sống đạo đức. Người nào sống không phóng dật trong giới luật, người đó sẽ được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi và chấm dứt mọi đau khổ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và một lần cuối cùng, nhìn thành phố Vaisali, Ðức Phật nói chúng Tỳ kheo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Giới, định, và tuệ, giải thoát tối hậu. Ðó là những điều Như Lai thực hiện".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;32. Buổi ăn cuối cùng của Ðức Phật&lt;br /&gt;Từ Vaisali, Ðức Phật cùng với tôn giả Ananda và chúng Tỳ kheo lên đường đi Kusinara. Dọc đường, Ðức Phật cùng chúng Tăng dừng lại ở nhiều nơi, tiếp xúc với dân chúng, thuyết pháp độ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Pava, người thợ rèn Cunda (Thuần Ðà) thết tiệc trai Ðức Phật và chúng Tăng. Cunda chuẩn bị riêng cho Ðức Phật một món ăn đặc biệt, gọi là sùkaramaddava. Ðức Phật khuyên Cunda dành riêng dĩa thức ăn đó cho Ðức Phật, và phần còn lại của dĩa phải đem chôn đi. Và nói: "Chỉ có Như Lai mới ăn và tiêu hóa được thức ăn này mà thôi".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ăn xong, Ðức Phật bị kiết lỵ nặng. Ngài tuy mệt nhưng vẫn giữ tinh thần bình thản và quyết định lại lên đường đi Kusinara, cách Pava khoảng 6 dặm. Ðức Phật tắm lần cuối cùng ở sông Kakutthi, và sau khi nghỉ một lát, Ngài nói với Ðại đức Ananda: "Có thể có người trách Cunda về bữa cơm cuối cùng dọn cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết bàn, và Cunda có thể ăn năn hối hận. Nhà ngươi cần nói cho Cunda biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như Lai, đem lại công đức lớn nhất cho người cúng dường. Ðó là bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai nhập Niết bàn. Hãy nói cho Cunda biết rằng, nhờ đã cúng dường Như Lai bữa ăn cuối cùng trước khi Như Lai nhập Niết bàn, Cunda được phúc đức lớn, quả báo lớn, nhờ đó mà Cunda được thọ mạng lâu dài, tái sanh ở cõi lành, giàu có, tiếng tăm, được sanh lên cõi trời và có quyền lực lớn. Này Ananda, ngươi hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi ân hận của Cunda, nếu có".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói xong, Ðức Phật đến vườn cây Sala ở Kusinara, nơi có bộ tộc Mallas ở, và bảo Ðại đức Ananda chuẩn bị chỗ nằm, để Ðức Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân phải để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;33. Cách tốt đẹp nhất để tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thấy các cây Sala trổ hoa trái mùa, và các biểu hiện khác của niềm tin tưởng, quý mến, tôn trọng Như Lai, Ðức Phật bèn nói với các Tỳ kheo có mặt như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này Ananda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai theo kiểu như vậy. Nhưng bất cứ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào, Ưu bà tắc hay Ưu bà di nào mà sống đúng với Chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính người đó tôn trọng, đảnh lễ, tán thán và quý mến Như Lai một cách tốt đẹp nhất. Do đó, này Ananda, các người phải tu tập như vậy. Mọi người hãy sống đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;34. Bốn địa điểm chiêm bái&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Rồi Ðức Phật nói tới bốn địa điểm có liên hệ tới Ðức Phật, mà Phật tử có thể đến chiêm bái. Ðó là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nơi Ðức Phật giáng sinh, ở vườn Lumbini (Lâm tỳ ni) tại vùng biên giới Ấn Ðộ - Nepan.&lt;br /&gt;Nơi Ðức Phật thành đạo ở Bodhi Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng).&lt;br /&gt;Nơi Ðức Phật bắt đầu chuyển thành bánh xe Pháp (Sarnàth) tức là Vườn Nai gần Benarès.&lt;br /&gt;Nơi Ðức Phật nhập Niết bàn ở Kusinàra (nay là Kasia, cách 32 dặm nhà ga Gorakbpur).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật dạy rằng: "Những người nào qua đời trong quá trình đi chiêm bái, với lòng có đức tin, thì sẽ được sanh lên các cõi trời".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;35. Ðức Phật hóa độ cho người cuối cùng: du sĩ Subhadda&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Bấy giờ có du sĩ Subhadda, đang sống ở Kusinara, biết tin Ðức Phật sẽ nhập Niết bàn vào canh cuối cùng của đêm nay ở Kusinara. Du sĩ có suy nghĩ như sau: "Các đạo sư lớn tuổi, các du sĩ thường nói với ta rằng sự kiện Như Lai, bậc toàn giác xuất hiện ở đời là hiếm có, rất hiếm có. Vào canh cuối cùng đêm nay, Ðức Phật Thích Ca, bậc Toàn giác sẽ nhập diệt. Ở đây ta có lòng tin Ðức Phật, có thể là Ngài sẽ thuyết pháp cho ta để ta được giác ngộ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi du sĩ Subhadda đi đến rừng cây Sala, và xin Ðại đức Ananda cho được gặp Ðức Phật. Nhưng ông Ananda nói là Ðức Phật đang mệt, không thể tiếp được. Subhadda ba lần thỉnh cầu, Ðại đức Ananda đều không chấp nhận. Nhưng Ðức Phật nghe câu chuyện giữa Ðại đức Ananda và du sĩ Subhadda, bèn nói với Ðại đức Ananda rằng: "Hãy để cho Subhadda vào. Ông ta đến đây để mong được nghe pháp, được giác ngộ, chứ không phải để làm phiền Ta, và những lời Ta nói, Subhadda sẽ có thể hiểu được".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói cho Subhadda nghe về con đường đạo tám nhánh, và chỉ có những người tu học theo pháp và luật của Như Lai, mới thực hành con đường đạo tám nhánh và mới có thể trở thành đệ nhất Sa môn, đệ nhị Sa môn, đệ tam Sa môn, đệ tứ Sa môn. Subhadda vô cùng hoan hỷ và xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ðồng thời xin được xuất gia làm Tăng, ngay bây giờ trước mặt Ðức Phật. Tuy rằng theo luật, đáng lý, Subhadda vốn là du sĩ ngoại đạo, phải trải qua 4 tháng thử thách và sau đó, nếu Tăng chúng chấp nhận, mới được thọ giới Tỳ kheo. Nhưng vì trường hợp rất đặc biệt, Ðức Phật đặc cách cho Subhadda miễn trải qua 4 tháng thử thách và bảo Tôn giả Ananda truyền thụ giới Tỳ kheo cho Subhadda. Subhadda sau một thời gian tu học tinh tấn, trở thành một A la hán. Ông là người được Phật hóa độ cuối cùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;36. Những lời dạy cuối cùng của Ðức Phật&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật thấy Ðại đức Ananda buồn khóc, bèn thân mật an ủi, tán thán đức hạnh của Ðại đức Ananda như là một thị giả, một đệ tử kiểu mẫu, và khích lệ Ðại đức phấn đấu tinh tấn để sớm được giải thoát, trở thành A la hán. Sau đó, Ðức Phật nói với Ðại đức Ananda đi báo cho dân chúng Mallas biết là Như Lai sắp nhập Niết bàn vào canh cuối đêm nay tại rừng cây Sala.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðược tin đông đảo dân chúng Mallas, đàn ông, đàn bà, người già, thanh niên, trẻ con tấp nập kéo đến rừng cây Sala bày tỏ lòng tôn kính, thương tiếc và vĩnh biệt Ðức Phật lần cuối cùng. Sau đây là những lời dặn của Ðức Phật với chúng đệ tử, trước khi ngài nhập Niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này Ananda, có thể các ngươi nghĩ rằng: Chỉ còn lại giáo phái cao cả mà không còn bậc Ðạo sư, chúng ta không còn có bậc Ðạo sư nữa. Không! Ananda, các ngươi không được nghĩ như vậy, Pháp và Luật mà ta đã dạy, tuyên bố sẽ là đạo sư của các ngươi, sau khi Ta nhập Niết bàn."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này Ananda, Tăng chúng nếu muốn, có thể bỏ các giới luật phụ và nhỏ, sau khi Ta nhập Niết bàn".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Này các đệ tử của Ta, nếu các ngươi còn có nghi ngờ gì về Phật, Pháp, Tăng hay về con đường đạo, về phương pháp thì hãy hỏi Ta, đừng để sau này hối tiếc, nghĩ rằng, đối diện với Như Lai mà không hỏi được Như Lai câu nào!"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói xong, chúng đệ tử đều im lặng, Ðức Phật hỏi tới ba lần, chúng đệ tử đều im lặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói: "Có thể vì các ngươi tôn trọng bậc đạo sư mà không đặt câu hỏi chăng? Thì hãy để một người nói thay vậy". Một lần nữa, chúng đệ tử vẫn im lặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại đức Ananda bạch Phật rằng: "Tuyệt vời thay! Hy hữu thay! Thưa đức Thế Tôn. Trong hàng đệ tử chúng con ở đây, không có một người nào nghi ngờ và thắc mắc gì đối với Phật, Pháp, Tăng, con đường đạo và phương pháp".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðức Phật nói: "Này Ananda, nhà ngươi nói vì niềm tin đối với Như Lai, Như Lai biết rõ là, trong chúng đệ tử có mặt tại đây, không có người nào còn nghi ngờ thắc mắc đối với Pháp, Tăng, con đường đạo và phương pháp. Trong số năm trăm đệ tử này, này Ananda, người kém nhất cũng đã chứng quả Dự Lưu, không còn thoái chuyển nữa, cuối cùng chắc chắn sẽ được giác ngộ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu nói cuối cùng của Ðức Phật là: "Hỡi các đệ tử, Ta khích lệ các người, mọi pháp hữu vi đều biến hoại. Hãy tích cực phấn đấu!". Thế rồi đức Thế Tôn im lặng. Ngài lặng lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp tới cao, rồi cuối cùng chủ động nhập Niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;37. Lễ Trà tỳ và sự phân chia xá lợi của Phật&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thi hài Ðức Phật được dân chúng Mallas trân trọng đưa tới Makutabandhana, và để ở đó bảy ngày trước khi tổ chức lễ trà tỳ chính thức (hỏa táng). Tôn giả Maha Kassapa cũng về đây để đảnh lễ vĩnh biệt Ðức Phật lần cuối cùng và chủ trì lễ hỏa táng. Sau lễ trà tỳ, dân chúng Mallas thu thập xá lợi để cúng dường. Các nước lân cận và nhất là vua Ajatasattu cũng đòi một phần Xá lợi. Vì ban đầu dân chúng Mallas không chịu, cho nên có nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh xung quanh việc phân chia xá lợi. Nhưng cuối cùng, các bên cũng thỏa thuận được với nhau là xá lợi Phật chia làm tám phần, phân phối cho dân chúng Mallas, vua Ajatasattu xứ Magadha, bộ tộc Liechavi ở Vaisali, bộ tộc Sakya ở Kapitavastu, bộ tộc Bulaka ở Calakalna, bộ tộc Krandya ở Ramagrama, những người Bà la môn ở Visudvipa, những người Mallas ở Pava.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà la môn Dona, người tổ chức thành công việc phân chia Xá lợi, dành lấy cho mình cái bình đựng Xá Lợi. Những người Maurya ở Pipphalirana, vì đến chậm, chỉ nhận được tro còn lại của giàn hỏa. Các bên được phân chia Xá Lợi, đều xây tháp ở quốc gia mình để cúng dường. Như vậy, có tất cả 10 tháp: tám tháp đựng Xá Lợi của Phật, một tháp xây trên bình chứa Xá Lợi, và một tháp thờ tro của giàn hỏa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết luận&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đây là sơ lược tiểu sử Phật Thích Ca, căn cứ vào các nguồn tư liệu chính thống của kinh sách Ðạo Phật. Trong tiểu sử đó, phần nào là sự thật lịch sử, phần nào là huyền thoại và thần thoại, do các thế hệ đệ tử và tín đồ sùng kính Phật thêm vào về sau này, đó là điều chúng ta không thể xác định được. Thế nhưng, dựa vào các tài liệu rải rác và được hệ thống hóa lại, chúng ta có thể có mấy nhận định sau đây về nhân vật Thích Ca, khác với các giáo chủ các tôn giáo khác như thế nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Phật không phải là Thượng đế tạo thế và cứu thế. Phật, theo đúng nghĩa của từ Phật, là bậc giác ngộ, và ai giác ngộ được như Phật đều gọi là Phật. Vì vậy, theo Phật giáo thì đã có nhiều Phật trước Phật Thích Ca và sau Phật Thích Ca, cũng sẽ có nhiều Phật ra đời nữa. Ðạo Phật thủy chung bác bỏ quan niệm siêu hình về một cái nhân ban đầu, từ con số không mà sinh ra được thế giới, vạn vật, v.v. Chủ thuyết của Ðạo Phật là mọi sự đều do nhiều nhân, nhiều duyên sinh ra, gọi là thuyết nhân duyên sinh. Phật cũng không phải là một đấng cứu thế, vì Phật "Chỉ dạy về con đường và nếu các người đi theo con đường này, mọi đau khổ sẽ đoạn tận". (Pháp Cú, kệ 275).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật luôn luôn nhắc nhở đệ tử là tự mình làm cho mình trở nên trong sạch. Và cũng tự mình làm cho mình dơ bẩn. Chứ không ai làm cho ai được trong sạch hay dơ bẩn cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Tự mình điều ác làm,&lt;br /&gt;Tự mình làm nhiễm ô.&lt;br /&gt;Tự mình ác không làm&lt;br /&gt;Tự mình làm thanh tịnh&lt;br /&gt;Tịnh không tịnh tự mình&lt;br /&gt;Không ai thanh tịnh ai". (Pháp Cú, kệ 165).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính vì những lý lẽ trên mà nhiều đạo giáo khác cho rằng đạo Phật là vô thần, theo nghĩa đạo Phật không công nhận có Thượng đế tạo thế và cứu thế. Nhưng ít có tôn giáo nào đề cao con người và tình thương con người như đạo Phật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thậm chí, có người nói đạo Phật không phải là tôn giáo, bởi vì đã là tôn giáo thì phải công nhận thế giới do Thượng đế sáng tạo và người phải có linh hồn. Nhưng đạo Phật đồng thời bác bỏ cả thuyết Thượng đế và thuyết linh hồn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng đạo Phật vẫn là một tôn giáo, ở chỗ, thứ nhất, nó có một Giáo chủ, một đức Bổn sử là Phật Thích Ca, mặc dù đã nhập diệt cách đây hơn 2500 năm, nhưng vẫn là đối tượng quy ngưỡng của hàng triệu triệu tín đồ Phật tử hiện nay trên khắp thế giới. Thứ hai, nó có một hệ thống giáo lý được ghi lại trong ba tạng kinh điển có nguyên tắc bằng hai cổ ngữ chính là Pali và Sanskrit, và hiện nay đã được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ chính trên thế giới. Thứ ba, nó có một giáo đoàn tăng sĩ, chấp nhận và thực hành mọi quy tắc được Phật chế định ngay lúc khi Ngài còn tại thế, và được ghi lại trong giới bổn Patimokkha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Phật luôn luôn khuyến cáo đệ tử là phải tin ở sức mình, ở khả năng của mình thành tựu đích giác ngộ và giải thoát tối hậu. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, Phật nói với tôn giả Ananda, người đệ tử thân cận của mình như sau: "Hãy dựa vào bản thân mình, như là ngọn đèn sáng cho chính mình. Hãy dựa vào sức của bản thân mình là chính. Hãy dựa vững vàng vào Chánh Pháp. Ðừng có tìm một chỗ dựa nào khác ngoài bản thân mình".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể nói, đặc sắc của Phật Thích Ca như là một giáo chủ, là không áp đặt một quyền lực nào hết lên trên con người. Phật không bao giờ cường điệu tính yếu hèn, tính tội lỗi nơi con người, trái lại, Phật luôn luôn nhấn mạnh con người có đầy đủ bản chất hướng thiện, đồng thời có đầy đủ khả năng tự hoàn thiện mình. Tự mình cố gắng và phấn đấu, thì mình sẽ được giác ngộ và giải thoát. Ðó là lời khuyên thường được nhắc đi, nhắc lại của Phật Thích Ca.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Phật Thích Ca không phải là một nhà cách mạng và hoạt động xã hội theo ý nghĩa hiện đại của từ đó, nhưng quan điểm xã hội của Phật rất rõ ràng. Phật không tán thành chế độ đẳng cấp xã hội ở Ấn Ðộ. Giáo hội Tăng già do Phật sáng lập không phân biệt đẳng cấp xã hội. Phật nói: "Hỡi các Tỳ kheo, cũng như các con sông lớn, sông Hằng Hà, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi, khi chúng đổ vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng, và được gọi cùng một tên là biển cả mà thôi, cũng như vậy, bốn đẳng cấp Sát đế lợi, Bà la môn, Vệ xá, và Thủ đà la, một khi họ đã đến với Pháp và Luật do Như Lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống không nhà thì họ cũng đều mất tên gọi trước đây của họ, bộ lạc cũ của họ, và được gọi cùng một tên là tu sĩ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong hàng ngũ đệ tử của Phật khi Phật còn tại thế, xuất gia cũng như tại gia, đều có đủ các hạng người thuộc đủ mọi đẳng cấp, từ các vua chúa lớn nhất của các vương quốc hùng mạnh tại Ấn Ðộ thời bấy giờ như vua Bimbisara, vua Ajatassattu, vua Pasenadi v.v.. cho đến các giáo sĩ Bà La Môn nổi danh là thông minh, cao đạo như anh em Kassapa, hai ông Sariputta và Moggalana cho đến anh thợ cạo thuộc bộ tộc Sakya là Upali, ngưòi dâm nữ nổi danh tài sắc thành Vaisali là Ambapali, tên cướp khét tiếng tàn ác là Angulimala ở Kosala.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả mọi người, không kể trí, ngu, sang, hèn, nếu thành tâm cầu đạo, ăn năn lỗi trước, đều có thể tu đạo, và chứng đạo, trở thành bậc Thánh giữa chúng sanh, chứng ngay Niết Bàn trên cõi thế. Phật luôn luôn nhấn mạnh tính bình đẳng giữa người và người với nhau. Phật nói về những người thuộc đẳng cấp Bà La Môn, vốn thường tự xem mình là tầng lớp xã hội thượng đẳng: "Là Bà La Môn hay là tiện dân không phải là do sinh đẻ mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà La Môn hay là tiện dân không phải là do sinh đẻ mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà La Môn không phải sinh ra từ lửa, nhờ có hai thanh gỗ ma xát nhau, cũng không phải từ trên trời rơi xuống hay là từ gió bay ra, cũng không phải từ dưới đất chui lên. Những người Bà La Môn cũng sinh ra từ bụng mẹ hoàn toàn giống nhau như người Thủ Ðà la vậy. Mọi người đều có quan năng trong cơ thể tương tự nhau, không có gì khác nhau cả. Sao lại có thể có những người tự cho mình thuộc loại hay giống như người đặc biệt?".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật không có thành kiến về giới tính, tuy rằng Phật cho rằng bản chất người phụ nữ là yếu đuối, và Phật đã tỏ ra dè dặt khi cho thiết lập đoàn thể nữ tu sĩ đầu tiên. Nhưng sau khi xuất gia, nhiều nữ tu sĩ đã trở thành nổi danh về đạo đức cao khiết và học lực uyên thâm. Cũng như hai ông Sariputta và Moggalana là Thượng thủ của Tăng chúng thời Phật, hai bà Khema và Gotami cũng được tôn là Thượng thủ của Ni chúng. Hai bà cũng đều chứng quả A la hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo hội Tăng già do Phật Thích Ca sáng lập ra là một đoàn thể thật sự dân chủ. Giáo hội đó không biết đến giáo quyền. Giáo hội đó dựa trên tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, gọi là lục hòa (sáu điều hòa hợp).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Phật Thích Ca là một giáo chủ rất rộng lượng và khiêm tốn, Phật thường ví Phật Pháp như cái bè qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng hay là con đường dẫn tới Chân lý, chứ bản thân Phật pháp không phải là chân lý tối hậu. Ðã là cái bè qua sông thì có thể có nhiều thuyền, nhiều bè khác nhau cùng qua sông; đã là ngón tay chỉ mặt trăng thì có thể có nhiều ngón tay cùng một lúc chỉ mặt trăng; đã là con đường dẫn tới chân lý thì có thể có nhiều con đường khác nhau dẫn tới đích là Chân lý tối hậu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai nữa, giác ngộ và giải thoát là một thực nghiệm cá nhân, nghĩa là không ai có thể giác ngộ hay giải thoát thay cho ai được cả. Có những điều mình làm được nhưng người khác không làm được, mình làm dễ nhưng người khác làm khó, trong hoàn cảnh này làm được, nhưng trong hoàn cảnh khác lại không. Một tôn giáo tầm cỡ thế giới như đạo Phật không thể cứng nhắc hay hẹp hòi được. Ðấy là một lý do vì sao trong đạo Phật, có lắm tôn nhiều phái, và giữa các phái với nhau, trong quá khứ cũng như hiện nay, tuyệt đối không bao giờ có sự lấn áp trên thế mạnh dù rằng có nhiều lúc Phật giáo có ưu thế hơn, được chính quyền trọng đãi như quốc giáo (như trong hai triều đại Lý, Trần ở Việt Nam).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những Tăng Ni Phật giáo, nếu sống đúng theo giới luật nhà Phật, là những người vô sản hoàn toán. Họ không có quyền lực, cũng không có tiền bạc. Họ chỉ có hai điều: lòng Từ bi và Trí tuệ. Nhưng với hai vũ khí đó, đạo Phật trong một thời, đã từng chinh phục trái tim và khối óc của đại bộ phận nhân dân thế giới cổ đại và phong kiến [*], và hiện nay nó vẫn là một tôn giáo thế giới với hàng trăm triệu tín đồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[*] Toàn bộ thời kỳ từ nửa thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VIII sau Công nguyên có thể được gọi là kỷ nguyên Phật giáo của lịch sử Trung Hoa. Trên thực tế, có thể gọi đó là kỷ nguyên Phật giáo cuả lịch sử châu Á. Và có thể nói, của cả thế giới, bởi lẽ vào thời kỳ đó, khoảng hơn một nửa dân số thế giới là tín đồ đạo Phật. Ðạo Phật trải rộng trên toàn khắp châu Á, trừ hai vùng Siberi và Cận Ðông, tạo thành cho cả châu lục này một sự thống nhất về văn hóa chưa từng có. (East Asia-The Great Tradition, - Ðông Á - Truyền thống vĩ đại, tr. 147-148, Edwin O Reischauer and John K. Faichanks, Harvard University)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đây là 4 đặc điểm về nhân cách của Phật Thích Ca, như là một giáo chủ. Các Tăng sĩ, tu sĩ Phật giáo của bất cứ một nước nào, trước đây cũng như hiện nay đều phải lấy đó làm gương. Không thể tưởng tượong được một Tăng sĩ Phật giáo, dù cao niên, dù bác học đến đâu mà có thái độ và giọng nói giáo quyền, sống không giản dị, không thiểu dục, trí túc, lại kích động, chống đối và bạo loạn, vì những mục đích danh lợi cá nhân, bày trò dị đoan để lôi kéo quần chúng, trong khi Phật Thích Ca tuyệt đối ngăn cấm không được làm như vậy, cho rằng đó là một việc làm xấu hổ, không nên làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tỳ kheo Thích Minh Châu&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-9215429046505798989?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/9215429046505798989'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/9215429046505798989'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/11/lich-su-uc-phat-thich-ca-ty-kheo-thich.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-1FojZnI0AqM/TtHi44J98aI/AAAAAAAABNo/oKa8BARAF54/s72-c/03.JPG' height='72' width='72'/></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-5720883864833463715</id><published>2011-11-26T00:22:00.000-08:00</published><updated>2011-11-26T05:38:24.799-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;b&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;color:#7f0000;"&gt;     &lt;p&gt;TAM TẠNG TRÍCH GIẢNG&lt;/p&gt;&lt;p&gt;KINH BỔN SANH&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;p&gt;150. CHUYỆN THANH NIÊN SANJIVA (Tiền thân Sanjiva)&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;color:#7f0000;"&gt;     &lt;/span&gt;&lt;i&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ai theo kẻ bất thiện...,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Ðạo Sư      đã kể về vua A-xà-thế (Ajàtasattu) theo phe kẻ bất thiện. Vua đã tin tưởng      Ðề-bà-đạt-đa, kẻ theo ác giới, kẻ phản lại các đức Phật và vì theo phe kẻ      bất thiện, phi chân nhân ấy, vua đã tôn trọng vị ấy, tiêu phí nhiều tài sản      để xây dựng một tinh xá ở Gayàsisa. Theo lời khuyên ác của Ðề-bà-đạt-đa, vua      đã giết phụ thân là một vị vua theo Chánh pháp, một Thánh đệ tử đã chứng quả      Dự lưu, do đó đã tự mình cắt đứt cận duyên chứng quả Dự lưu, và sẽ gặp tai      họa lớn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi nghe Ðề-bà-đạt-đa đã bị đất nuốt sống,      vua suy nghĩ: "Ta cũng có thể bị đất nuốt", liền hoảng hốt lo sợ, không vui      trong vương vị, ngủ không yên giấc, đi lang thang, hoảng hốt run rẩy như con      voi con bị những hình phạt sắc bén. Trong tưởng tượng, vua thấy như đất nứt      nẻ ra, như lửa địa ngục A-tỳ (Avìci) phun lên, như mình bị đất nuốt xuống,      như mình bị bắt nằm ngửa trên tấm đồng nung đỏ, như bị các cây gậy sắt đâm      xuyên vào thân. Như một con gà trống bị thương tích, không giây phút nào vua      không run sợ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vua muốn đến yết kiến bậc Chánh Ðẳng Giác,      muốn cầu hòa với Ngài và xin Ngài hướng dẫn, nhưng không thể đi đến gần Ngài      vì tội lỗi quá lớn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Nhân ngày lễ hội Kattika đêm rằm tháng mười,      thành Vương Xá được thắp đèn và trang hoàng như thành phố chư Thiên, khi vua      ngự trên ngai vàng với quần thần vây quanh trong cung điện lớn, và thấy      Jìvaka ngồi không xa bao nhiêu, vua suy nghĩ: "Ta sẽ đem Jìvaka đi theo yết      kiến bậc Chánh Ðẳng Giác. Nhưng ta không có thể nói thẳng: Này bạn Jìvaka,      ta không muốn đi một mình. Hãy đưa ta đến bậc Ðạo Sư. Ta hãy dùng phương      tiện tán thán đêm đẹp trời và sẽ nói: Hôm nay, chúng ta nên đến chiêm bái vị      Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể làm tâm chúng ta được an lạc? Nghe ta nói,      các đại thần sẽ tán thán bậc Ðạo Sư của mình. Và Jìvaka sẽ tán thán bậc      Chánh Ðẳng Giác, và ta sẽ đem Jìvaka theo và sẽ đi đến bậc Ðạo Sư".&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vì vậy, vua tán thán đêm ấy với năm câu kệ:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;&lt;dir&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;       &lt;/span&gt;       &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Thật là điềm lành thay,&lt;br /&gt;    Ðêm rằm sáng trăng này!&lt;br /&gt;    Thật là diễm lệ thay,&lt;br /&gt;    Ðêm rằm sáng trăng này!&lt;br /&gt;    Thật là quyến rũ thay,&lt;br /&gt;    Ðêm rằm sáng trăng này!&lt;br /&gt;    Thật là thích thú thay,&lt;br /&gt;    Ðêm rằm sáng trăng này!&lt;br /&gt;    Thật là khả ái thay,&lt;br /&gt;    Ðêm rằm sáng trăng này!&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/dir&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Hôm nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn      hay Bà-la-môn nào để vị ấy làm tâm chúng ta được an lạc?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Một đại thần tán thán Puràna Kassapa      (Phú-lan-na Ca-diếp), một đại thần tán thán Makkhali Gosala (Mạc-già-lê      Cù-xá-lợi), một đại thần tán thán Ajita Kesakambala (A-kỳ-đa      Kỳ-xá-khâm-bà-la), một đại thần tán thán Kakudha Kaccàyana (Bà-phu-đà      Ca-chiên-diên), một đại thần tán thán Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhã-di      Tỳ-la-lê-phất), một đại thần tán thán Nigantha Nataputta (Ni-kiền-đà      Nhã-đề-tử).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vua nghe các đại thần ấy nhưng vẫn im lặng.      Vua chờ đợi đại thần Jìvaka nói. Nhưng Jìvaka ngồi không xa, suy nghĩ: Không      biết vua có chờ đợi mình nói hay không, nên Jìvaka vẫn ngồi im lặng. Cuối      cùng vua nói với đại thần Jìvaka:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này Hiền khanh Jìvaka, sao khanh không nói      gì?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi ấy Jìvaka từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay      vái về hướng Thế Tôn và thưa:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa Thiên tử, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng      Giác, nay đang trú ở rừng xoài của chúng thần với một ngàn ba trăm năm mươi      Tỷ-kheo. Tiếng đồn tốt đẹp như vậy được truyền đi về Thế Tôn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sau khi nói lên chín đức tánh bắt đầu từ      A-la-hán, Jìvaka trình bày những tướng tốt v.v... từ khi sanh ra, uy lực của      Thế Tôn đã vượt hẳn mọi dự đoán và mong đợi trước kia, rồi thưa:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thiên tử hãy đi đến chiêm bái Thế Tôn,      nghe pháp và hỏi đạo.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Vua được toại ý liền nói:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này bạn Jìvaka, hãy cho thắng voi vào các      cỗ xe.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sau khi các cỗ xe được thắng xong, vua đi      đến rừng xoài của Jìvaka với uy nghi của một vị vua. Thấy Thế Tôn được vây      quanh với chúng Tỷ-kheo, với hương hoa, vòng hoa, nhìn thấy chúng Tỷ-kheo ở      mọi nơi không dao động như biển hoàn toàn vắng lặng, vua suy nghĩ: "Một hội      chúng như vậy ta không bao giờ thấy". Vua hoan hỷ với uy nghi ấy liền chắp      tay vái chúng Tỷ-kheo, nói lên lời tán thán, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một      bên, rồi hỏi về quả của Sa-môn hạnh. Thế Tôn chia làm hai phần tụng Kinh Quả      của hạnh Sa-môn (Samanna-phala). Cuối bài kinh, vua hoan hỷ, xin Thế Tôn tha      thứ lỗi lầm, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi đi ra.      Khi vua vừa đi không bao lâu, bậc Ðạo Sư nói với các Tỷ-kheo:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các Tỷ-kheo, vua này đã bị tổn thương.      Này các Tỷ-kheo, nếu vua ấy đã không vì tham vương quyền hại mạng vua cha,      một đại vương trị vì đúng pháp, thì vua ấy ngay trên chỗ ngồi này đã khởi      lên Pháp nhãn không bụi không dơ! Do nương tựa Ðề-bà, theo kẻ bất thiện, nên      vua đã không chứng quả Dự lưu.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ngày hôm sau, các Tỷ-kheo bắt đầu nói chuyện      tại Chánh pháp đường:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa các Hiền giả, nghe nói vua A-xà-thế      theo phe kẻ bất thiện, nương tựa Ðề-bà-đạt-đa theo ác giới, làm ác pháp, đã      tự mình giết cha, nên đã mất quả Dự lưu. Như vậy, vua bị Ðề-bà-đạt-đa làm      hại.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Trong lúc ấy, bậc Ðạo Sư đi đến Chánh pháp      đường hỏi:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các Tỷ-kheo, nay các ông ngồi họp tại      đây bàn câu chuyện gì?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Khi được biết vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các Tỷ-kheo, vua A-xà-thế không phải      nay mới theo phe kẻ bất thiện và chịu thiệt hại lớn. Thuở xưa, vua cũng đã      theo phe bất thiện và gặp đại nạn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể lại câu chuyện      quá khứ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/i&gt;     &lt;p align="CENTER"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;*&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ      Bà-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi đến tuổi      trưởng thành, ngài đi đến Takkasilà học tất cả các nghề và trở thành một Sư      trưởng có danh nhiều phương dạy nghề cho năm trăm thanh niên, trong đó có      một người tên là Sanjiva.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Bồ-tát dạy cho thanh niên ấy bùa chú làm các      vật chết sống dậy nhưng không dạy bùa chú chế ngự lại. Một hôm vì kiêu mạn      về năng lực của mình, anh ta đi cùng với các thanh niên vào rừng lượm củi,      thấy một con cọp chết, liền nói với họ:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Thưa các Hiền hữu, tôi sẽ làm cho con cọp      chết này sống lại.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Các thanh niên ấy nói:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Bạn không thể làm được.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Các bạn cứ nhìn, tôi sẽ làm cho nó đứng      dậy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Nghe vậy xong, các thanh niên ấy liền leo      lên trên cây. Sanjiva đọc bùa chú, lấy mảnh sành đánh cọp. Con cọp vàng đứng      dậy, nhanh như chớp xông tới, cắn vào cổ Sanjiva và hủy diệt mạng sống của      anh ta và rồi rơi xuống tại chỗ ấy. Sanjiva cũng rơi xuống, và cả hai đều      nằm chết tại chỗ. Các thanh niên lượm củi xong, đi về và trình Sư trưởng câu      chuyện ấy. Ngài gọi các thanh niên và nói:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Này các con thân, do thân cận với kẻ bất      thiện, do kính trọng những kẻ không xứng đáng, nên nó phải gặp đại nạn như      vậy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;     &lt;/span&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Rồi ngài đọc bài kệ này:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;dir&gt;       &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Ai theo kẻ bất thiện,&lt;br /&gt;    Thân cận kẻ bất thiện,&lt;br /&gt;    Sẽ bị nó giết chết,&lt;br /&gt;    Như cọp giết Ji-va.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/dir&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Bồ-tát thuyết pháp cho các thanh niên với      bài kệ này và suốt đời làm cái công đức như bố thí v.v... rồi đi theo nghiệp      của mình.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p align="CENTER"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;*&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;i&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận      diện Tiền thân:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;p&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;- Lúc bấy giờ, thanh niên làm sống dậy con      cọp chết là vua A-xà-thế, còn vị Sư trưởng có danh nhiều phương là Ta vậy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;     &lt;/i&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-5720883864833463715?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/5720883864833463715'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/5720883864833463715'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/11/tam-tang-trich-giang-kinh-bon-sanh-150.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-8304799891226343876</id><published>2011-11-25T00:13:00.001-08:00</published><updated>2011-11-25T00:16:08.643-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>TAM TẠNG TRÍCH GIẢNG&lt;br /&gt;Trung Bộ Kinh&lt;br /&gt;Majjhima Nikaya&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;18. Kinh Mật hoàn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;(Madhupindika sutta)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Tôi nghe như vầy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một thời, Thế Tôn sống giữa các vị dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Nigrodharama.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có vị Gậy cầm tay (Dandapani) Sakka (Thích-ca), kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy, đứng một bên. Gậy cầm tay Sakka nói với Thế Tôn: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--"Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến vườn Nigrodha, khi đến xong, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Chư Tỷ-kheo, ở đây, Ta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường khất thực trở về, Ta đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ta ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây beluvalatthika. Có vị Gậy cầm tay Sakka kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Ta ở, khi đến xong, nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy. Ðứng một bên, Gậy cầm tay Sakka nói với Ta như sau: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?" Chư Tỷ-kheo, được nói vậy, Ta trả lời Gậy cầm tay Sakka: "Này Hiền giả, theo lời Ta dạy trong thế giới với chư Thiên, Mara, và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời. Các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy". Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Nhưng bạch Thế Tôn, lời dạy ấy là gì mà Thế Tôn, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời? Các tưởng sẽ không ám ảnh Thế Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy bước vào tịnh xá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này cho chúng ta, không giải thích rộng rãi ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa". Rồi những Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Nay có Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi những Tỷ-kheo ấy đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm xã giao với Tôn giả Mahakaccana rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Mahakaccana:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- "Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này và không giải thích rõ ràng ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Này Hiền giả Mahakaccana, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, chúng tôi suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy vắn tắt này cho chúng ta... đã đi vào tịnh xá:" Do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy mà Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt... không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Này Hiền giả Mahakaccana, rồi chúng tôi suy nghĩ: "Nay Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng ta hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Tôn giả Mahakaccana sẽ giải thích cho".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Chư Hiền, cũng như một người ưa thích lõi cây, tìm tòi lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở nơi cành lá. Cũng vậy là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quý vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Quý vị phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho quý vị, quý vị hãy như vậy thọ trì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Hiền giả Mahakaccana, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Tôn giả Mahakaccana hãy giải thích không có sự gì bất kính.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Vậy chư Hiền hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Thưa vâng, Hiền giả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahakaccana. Tôn giả Mahakaccana giảng như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Chư Hiền, Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt lời dạy này... và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo bất cứ vì nhân duyên gì... không còn dư tàn". Chư Hiền, với lời dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Tôi hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, do nhơn lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên, do nhơn lỗ mũi và các hương, tỷ thức khởi lên, do nhơn lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên, do nhơn thân và xúc, thân thức khởi lên; do nhơn ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các pháp do ý thức nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, sự kiện này xảy ra: khi nào có mắt, khi nào có sắc pháp, khi nào có nhãn thức, thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của xúc thời sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có thi thiết của thọ thời sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của tưởng, thời sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện này xảy ra: khi nào có tai, khi nào có các tiếng, khi nào có nhĩ thức... Sự kiện này xảy ra: khi nào có lỗ mũi, khi nào có các hương, khi nào có tỷ thức... Sự kiện này xảy ra, khi nào có lưỡi, khi nào có các vị, khi nào có thiệt thức... Sự kiện này xảy ra: khi nào có thân, khi nào có các xúc, khi nào có thân thức... Sự kiện này xảy ra: khi nào có ý, khi nào có các pháp, khi nào có ý thức thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: khi nào không có mắt, khi nào không có các sắc, khi nào không có nhãn thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của xúc, sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của tưởng, sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của suy tầm, thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: khi nào không có tai, khi nào không có các tiếng... khi nào không có mũi, khi nào không có các hương... khi nào không có lưỡi, khi nào không có các vị... khi nào không có thân, khi nào không có các xúc ... Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có ý, khi nào không có các pháp, khi nào không có ý thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chư Hiền, Thế Tôn, sau khi nói lên lời dạy một cách vắn tắt... đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không dư tàn". Chư Hiền, đối với lời dạy Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, và nghĩa lý không được giải thích một cách rộng rãi, tôi đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu quý vị muốn, hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, hãy hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải đáp như thế nào, hãy như vậy thọ trì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi những Tỷ-kheo ấy, hoan hỷ, tùy hỷ lời Tôn giả Mahakaccana nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nói lên lời dạy này một cách vắn tắt cho chúng con... đã vào tịnh xá. "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói cho chúng ta lời dạy tóm tắt này, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn". Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Bạch Thế Tôn, và chúng con suy nghĩ: "Nay có Tôn giả Mahakaccana là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này". Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahakaccana đã giải thích ý nghĩa ấy cho chúng con với những phương pháp này, với những văn cú này, với những văn tự này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahakaccana là bậc Hiền trí. Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahakaccana là bậc Ðại tuệ. Chư Tỷ-kheo, nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như Mahakaccana đã trả lời. Như vậy là chính nghĩa lời dạy ấy, hãy như vậy thọ trì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Bạch Thế Tôn, như một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Bạch Thế Tôn, cũng vậy, Tỷ-kheo có tri thức biệt tài, cứ mỗi phần suy tư đến ý nghĩa pháp môn này với trí tuệ, cứ mỗi phần vị ấy được thưởng thức sự hoan hỷ, được thưởng thức sự thoải mái tâm trí. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Do vậy, này Ananda, pháp môn này được gọi là pháp môn bánh mật (Mật hoàn). Hãy như vậy thọ trì!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hòa thượng Thích Minh Châu dịch&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/10469031-8304799891226343876?l=hocloiphatday.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8304799891226343876'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/10469031/posts/default/8304799891226343876'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hocloiphatday.blogspot.com/2011/11/tam-tang-trich-giang-trung-bo-kinh.html' title=''/><author><name>.</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00500125766022277195</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='31' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_ZGqXfmqlQU8/S1aI-T--1BI/AAAAAAAAAY0/ZqS1TXqSxnI/S220/image001.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-10469031.post-5892645888740343061</id><published>2011-11-24T00:55:00.000-08:00</published><updated>2011-11-24T05:03:35.481-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>Tam Tạng Trích Giảng&lt;br /&gt;Phật Tông (Buddhavamsa)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center; color: rgb(0, 51, 0); font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;THỌ KÝ LẦN ĐẦU TIÊN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-XTRwPIxCjVk/Ts34w9XQapI/AAAAAAAABNc/JKdO1i8ltYw/s1600/02.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 627px; height: 420px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-XTRwPIxCjVk/Ts34w9XQapI/AAAAAAAABNc/JKdO1i8ltYw/s400/02.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5678468225173580434" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;" lang="EN-US"&gt;PHẦN NÓI VỀ SUMEDHA&lt;/span&gt;&lt;p class="MsoNormal"   style="margin: 6pt 0cm 0.0001pt; color: rgb(0, 0, 0); font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Kappe ca satasahasse  - caturo ca asaṅkhiye&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;amaraṃ nāma nagaraṃ  - dassaneyyaṃ manoramaṃ. (1)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"   style="margin: 6pt 0cm 0.0001pt; color: rgb(0, 0, 0); font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Vào thuở một trăm ngàn kiếp&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-phatsu/02.htm#_edn1" name="_ednref1" title=""&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference" style="vertical-align: baseline;color:blue;" &gt;&lt;span lang="EN-US"  style="font-size:10pt;"&gt;&lt;span style=";font-family:'VU Times';font-size:10pt;"  lang="EN-US" &gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;&lt;span class="Apple-converted-space"&gt; &lt;/span&gt;và bốn a-tăng-kỳ, có thành phố tên Amara&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-phatsu/02.htm#_edn2" name="_ednref2" title=""&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference" style="vertical-align: baseline;color:blue;" &gt;&lt;span lang="EN-US"  style="font-size:10pt;"&gt;&lt;span style=";font-family:'VU Times';font-size:10pt;"  lang="EN-US" &gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;&lt;span class="Apple-converted-space"&gt; &lt;/span&gt;là đáng nhìn, xinh xắn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Dasahi saddehi avivittaṃ  - annapānasamāyutaṃ&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;hatthisaddaṃ assasaddaṃ  - bherisaṅkharathāni ca.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"   style="margin: 6pt 0cm 0.0001pt; color: rgb(0, 0, 0); font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;(Thành phố này) dồi dào thức ăn nước uống và nhộn nhịp với mười loại âm thanh như tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trống, tiếng tù và vỏ ốc, tiếng xe cộ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Khādatha pīvatha ceva  - annapānena ghositaṃ (2)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;nagaraṃ sabbaṅgasampannaṃ  - sabbakammamupāgataṃ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"   style="margin: 6pt 0cm 0.0001pt; color: rgb(0, 0, 0); font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Và còn được giới thiệu về thức ăn nước uống: “&lt;i&gt;Xin hãy nhai, xin hãy uống&lt;/i&gt;.” Thành phố được đầy đủ về mọi yếu tố và thành tựu tất cả hoạt động về nghề nghiệp.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px;font-family:'VU Times';font-size:medium;"&gt;&lt;span lang="EN-US"&gt;Sattaratanasampannaṃ  - nānājanasamākulaṃ&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="NormalItalic"   style="margin: 0cm 0cm 0.0001pt; font-style: italic; color: rgb(0, 0, 0); font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: 2; text-indent: 
